Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 264/2026/DS-ST ngày 29/06/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 264/2026/DS-ST NGÀY 29/06/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 371/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2026/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2026/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Căn cước công dân số 0371820xxxxxx, cấp ngày 12/8/2022; Địa chỉ: Thôn L, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; Căn cước công dân số 0721720xxxxxxxx, cấp ngày 25/4/2021; Địa chỉ: Khu phố T, phường G, tỉnh Tây Ninh (theo giấy ủy quyền ngày 24/7/2025).

-Bị đơn:

1.Bà Phạm Thị Thanh X, sinh năm 1977; Căn cước công dân số 07217700xxxxxxxx, cấp ngày 27/12/2021; Địa chỉ: Tổ B, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.

2.Ông Nguyễn Tấn M, sinh năm 1976; Căn cước công dân số 07207600xxxx, cấp ngày 27/12/2021; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh (nay là Tổ A, khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/7/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Vào ngày 19/4/2024 chị N có cho chị X, anh M vay số tiền 500.000.000 đồng để làm vốn mua bán gạo. Hai bên có lập Hợp đồng vay tiền được công chứng số 003339, quyển số 04/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2024 tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C1). Thời hạn vay là 12 tháng (kể từ ngày ký hợp đồng đến ngày 19/4/2025), lãi suất thỏa thuận 02%/tháng. Khi giao nhận tiền, chị N giao trực tiếp bằng tiền mặt cho chị X, anh M tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C1). Chị X có viết biên nhận ở mặt sau hợp đồng xác nhận đã nhận đủ số tiền 500.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị X đã trả được 02 tháng tiền lãi, chị N không nhớ cụ thể số tiền lãi đã trả là bao nhiêu do trả lãi không đầy đủ, chưa thanh toán khoản nợ gốc nào; hiện chị N không có giữ tài sản của chị X, anh M.

Nay chị N yêu cầu Tòa án buộc chị X và anh M liên đới trả cho chị N số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi theo quy định pháp luật, kể từ ngày 01/01/2025 cho đến ngày xét xử vụ án. Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu gì khác.

-Bị đơn chị X, anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không tham gia các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử, việc vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến, xem như chị X, anh M từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Bị đơn chị X và anh M vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 280, 288, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:

-Chấp nhận yêu cầu về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của chị N đối với chị X và anh M.

Buộc chị X và anh M cùng có nghĩa vụ trả cho chị N số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.

-Về án phí sơ thẩm dân sự: Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà T có đơn xin vắng mặt; Bị đơn chị X và anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị X, anh M đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn chị N và tài liệu chứng cứ kèm theo. Do đó, bị đơn chị X, anh M phải chịu hậu quả pháp lý của việc không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 196 và Điều 199 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật.

[2]Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử xét rằng: Căn cứ Hợp đồng vay tiền được công chứng số 003339, quyển số 04/2024 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 19/4/2024 tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C1) thể hiện chị N là bên cho vay, chị X và anh M là bên vay số tiền 500.000.000 đồng. Tại mặt sau hợp đồng, chị X có viết tay nội dung: “Tôi đã nhận đủ số tiền 500.000.000 đồng, năm trăm triệu đồng V, ngày 19-4-2024 DL”, ký tên và ghi rõ họ tên Phạm Thị Thanh X để xác nhận đã nhận đủ số tiền vay (bút lục 62, 63).

Hợp đồng vay tiền nêu trên là chứng cứ trực tiếp chứng minh giữa chị N và chị X, anh M đã xác lập quan hệ vay tài sản trên cơ sở tự nguyện, có đối tượng vay, số tiền vay, thời hạn vay và việc giao nhận tiền thực tế. Việc chị X tự viết, ký tên xác nhận đã nhận đủ tiền ở mặt sau hợp đồng vay tiền là căn cứ thể hiện nghĩa vụ trả nợ đã phát sinh đối với bên vay. Do đó, có đủ cơ sở xác định giao dịch vay tài sản giữa các bên được xác lập hợp pháp và làm phát sinh quyền yêu cầu trả nợ của bên cho vay, nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.

[2.2] Xét về nghĩa vụ liên đới của anh M và chị X, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo hợp đồng vay tiền ngày 19/4/2024 thể hiện anh M và chị X đều ký tên là bên vay nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, buộc chị X và anh M có nghĩa vụ liên đới trả cho bà chị N số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng, là phù hợp với quy định tại Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Đối với yêu cầu tính tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/4/2026, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày giữa các bên có thỏa thuận lãi suất 02%/tháng. Mặc dù mức lãi suất này không được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng vay tiền ngày 19/4/2024 nhưng trong hợp đồng vay tiền có thể hiện nội dung: “Lãi suất: Hai bên thỏa thuận, số tiền vay trong hợp đồng này lãi suất do hai bên thỏa thuận”. Đồng thời, nguyên đơn xác nhận trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị X đã thanh toán tiền lãi được 02 tháng rồi ngưng, nhưng trả không đầy đủ, không nhớ số tiền lãi đã nhận, không có yêu cầu giải quyết lại. Bị đơn không có ý kiến phản đối về nội dung này. Do đó, có căn cứ xác định giữa các bên có thỏa thuận về việc vay có lãi, nay nguyên đơn có yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 01/01/2025 đến ngày xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất 20%/năm để tính tiền lãi đối với khoản vay 500.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 19/4/2024, như sau:

Tiền lãi tính từ ngày 01/01/2025 dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án 29/6/2026 dương lịch là 17 tháng 28 ngày. Tiền lãi được tính như sau: 500.000.000 đồng x 20%/năm x 17 tháng 28 ngày = 149.337.900 đồng.

Như vậy, có căn cứ buộc chị X và anh M liên đới trả cho chị N tổng số tiền gốc và lãi là: 649.337.900 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 149.337.900 đồng).

[3]Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh là phù hợp với các tình tiết, chứng cứ và nội dung của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của chị N được chấp nhận nên chị X và anh M phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đối với bị đơn chị Phạm Thị Thanh X và anh Nguyễn Tấn M về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Phạm Thị Thanh X và anh Nguyễn Tấn M có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Thị N tổng số tiền 649.337.900 đồng (Sáu trăm bốn mươi chín triệu ba trăm ba mươi bảy ngàn chín trăm đồng), trong đó nợ tiền gốc là 500.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 149.337.900 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, nếu chị Phạm Thị Thanh X và anh Nguyễn Tấn M không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị Phạm Thị Thanh X và anh Nguyễn Tấn M còn phải trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Thanh X và anh Nguyễn Tấn M phải liên đới chịu 29.973.516 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm mười sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0008105 ngày 17/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Tây Ninh.

3.Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

39
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 264/2026/DS-ST ngày 29/06/2026

Số hiệu:264/2026/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/06/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về