TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 253/2024/DS-ST NGÀY 19/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 456/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Sawad TCN (viết tắt là Công ty); địa chỉ trụ sở: 128 ND, phường BT, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Thanh T – nhân viên công ty Cổ phần Sawad TCN (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp NN, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Anh Trần Thanh T trình bày: Ngày 09/5/2023, anh T có ký hợp đồng cầm cố cho Công ty một xe mô tô loại Wave, biển số 69F1-488.26, số tiền 7.700.000đ, thời hạn cố 06 tháng, mục đích cầm cố: phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh, lãi suất 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phí mượn xe 231.000đ/tháng. Trong ngày, anh T ký kết hợp đồng mượn Công ty chiếc xe đã cầm cố, thời hạn 01 tháng.
Tại đơn khởi kiện, Công ty yêu cầu anh T trả lại số tiền là 8.373.000đ và chiếc xe đã cầm cố cho công ty. Tại bản tự khai ngày 19/8/2024, anh T yêu cầu anh Thiện trả cho Công ty tổng số tiền 6.244.000đ (tiền vốn 5.214.372đ, lãi 1.029.628đ), không yêu cầu trả xe.
Đối với anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp.
Về phạm vi khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty yêu cầu anh T trả lại số tiền vốn 8.373.000đ và chiếc xe đã cầm cố. Tại bản tự khai, Công ty yêu cầu anh T trả số tiền 6.244.000đ, không yêu cầu trả xe. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Theo đại diện Công ty trình bày, Hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn xe cùng ngày 09/5/2023, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 09/5/2023, anh T với Công ty đã ký hợp đồng cầm cố một xe mô tô loại Wave, biển số 69F1-488.26, số tiền 7.700.000đ và ký kết hợp đồng cho mượn xe đã cầm cố. Sau khi cầm cố xe, anh T đã trả được 2.485.628đ tiền vồn, 155.838đ tiền lãi. Xét thấy, phía nguyên đơn yêu cầu anh T trả số tiền 6.244.000đ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Công ty đang quản lý bản chính giấy chứng nhận đăng ký số 037296 đứng tên Nguyễn Văn T được Công an huyện Đầm Dơi cấp ngày 22/02/2019 nên cần buộc trả cho anh T.
Đối với anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng anh T không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty. Buộc anh T trả cho Công ty số tiền 6.244.000đ. Buộc Công ty trả cho anh T bản chính giấy chứng nhận đăng ký số 037296 do anh T đứng tên được Công an huyện Đầm Dơi cấp ngày 22/02/2019.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ được nhận lại. Anh T phải chịu 6.244.000đ x 5% = 312.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Sawad TCN.
Buộc anh Nguyễn Văn T trả cho Công ty Cổ phần Sawad TCN số tiền 6.244.000đ (sáu triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Buộc công ty Cổ phần Sawad TCN trả cho anh Nguyễn Văn T bản chính giấy chứng nhận đăng ký số 037296 đứng tên Nguyễn Văn T được Công an huyện Đầm Dơi cấp ngày 22/02/2019.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần Sawad TCN không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001441 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Anh Nguyễn Văn T phải chịu 312.000đ (ba trăm mười hai nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 253/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 253/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 19/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về