TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
BẢN ÁN 25/2024/DS-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đêu văng măt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 07/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T trình bày:
Ngày 30/11/2023, bà T có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Phan Thị H vay số tiền 150.000.000đồng vơi hinh thưc đưa tiên măt va hưa khi nao ba T cân tiên thi se tra, đến đầu tháng 01/2024 bà T thông bao đên vơ chông ông P, bà H đề nghị ông bà trả nợ cho bà T sô tiên 150.000.000 đông như đa thoa thuân nhưng ông bà cố tình tránh né, chây y không tra nơ cho ba T như đa thoa thuân vay tiên.
Quá trình giải quyết vụ án bà T đươc biêt chi co môt minh ba Phan Thị H vay tiên riêng cua ba , không liên quan ông Nguyễn văn P và bà Phan Thị H đa tra cho ba T đươc 50.000.000 đông tiên gôc.
Vì vậy , nay ba T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc môt minh ba Phan Thị H phải trả cho ba T số tiền gốc con lai la 100.000.000 đông, bà T không yêu câu tinh lai suât.
* Theo bản tư khai ngày 10/5/2024, bị đơn bà Phan Thị H trình bày:
Bà H có vay của bà T sô tiên 150.000.000 đông, vơi lai suât thoa thuân miêng la 3%/1tháng, khi vay ba H có viết giấy vay tiền và đã nhận tiên, trong giây vay tiên ba H có ghi thêm chồng bà là ông Nguyễn Văn P vào nhưng thực tế ông P không biêt, không ky vào giấy vay tiền và không liên quan đến khoản vay này . Do làm ăn khó khăn nên bà H chưa tra sô tiên nay cho ba T cả gốc và lãi từ khi vay cho đên nay.
Nay ba T khơi kiên yêu câu ba H trả số tiền 150.000.000đông thi ba H đông ý trả cho bà T sô tiên nay, tuy nhiên thơi han tra nơ trươc 50.000.000 đông, còn lại cho ba H trả dần nợ từ 3 đến 4 năm se tra hêt cho ba T. * Theo bản tư khai ngày 10/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Viêc ba T khơi kiên đê nghi Toa an buôc ông P và vợ ông bà H trả số tiền vay 150.000.000 đông cho ba T thì ông P không đông y . Vì, ông P không biêt , không liên quan đên khoan vay nay . Ông P không ky giây tơ vay mươn ba T, còn viêc vơ ông ba H vay cua ba T thê nao thi ông P không biêt va không thây ba H mang tiên vê sư dung chung trong gia đinh , viêc ba H vay cua ba T thì một mì nh bà H có trách nhiệm trả nợ cho bà T. Bị đơn vắng mặt nên không tiến hành tranh luận được.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk:
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự : Nguyên đơn ba Nguyễn Thị Ánh T thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Phan Thị H chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.
+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T; buộc bị đơn bà Phan Thị H phải trả cho ba Nguyễn Thị Ánh T sô tiên gôc l à 100.000.000đông.
+ Về án phí : Bà Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: [1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị H phải trả cho ba Nguyễn Thị Ánh T số tiền gốc 100.000.000đông, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Bị đơn bà Phan Thị H cư trú tại thôn D, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.
[1.2]. Thủ tục tố tụng:
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bi đơn là phù hợp vớ i quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điêu 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ba Nguyễn Thị Ánh T đề nghị Tòa án buộc bà Phan Thị H, ông Nguyễn Văn P phải trả cho bà số tiền gốc là 150.000.000đồng. Tuy nhiên, tại phiên toa nguyên đơn ba T xác định quá trình giải quyêt vu an ba T đươc biêt ba H mươn tiên cua ba T để sử dụng vào mục đích riêng không liên quan đên ông P và bà H đa tra cho ba T đươc 50.000.000 đông, nay ba T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H trả cho bà T sô tiên gôc con lai là 100.000.000đông, để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn ba T đã cung cấp cho Tòa án Giấy mươn tiên ngày 30/11/2023 có chữ viết, ký của ba Phan Thị H là bên mượn tiền nhận nợ.
Xét Giấy mươn tiên ngày 30/11/2023 đều được các bên đương sự thừa nhận có chữ viêt , ký của người mượn tiền bà Phan Thị H với số tiền 150.000.000đồng và bị đơn ba H đã thưa nhân tư khi vay cho đến nay chưa tra gôc va lai cho nguyên đơn ba T. Như vậy , việc ký mượn tiền của bị đơn ba Phan Thị H là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự cho nên giao dịch mượn tiền Giây mươn tiên ngày 30/11/2023 mà ba Nguyễn Thị Ánh T cho ba Phan Thị H vay tiền là phù hợp với quy định của pháp luật , đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự ; việc vay mươn nay không liên quan đên ông P. Vì vậy , bà Phan Thị H không trả nợ cho bà T như đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.
Do đó, căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ba Nguyễn Thị Ánh T, buộc bị đơn ba Phan Thị H phải trả cho ba Nguyễn Thị Ánh T số tiền 100.000.000đồng nợ gốc là có căn cứ.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ba Nguyễn Thị Ánh T được chấp nhận nên bị đơn ba Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000đồng.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ánh T (Ông Trịnh Tấn L nộp) số tiền 3.750.000đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2023/0008314 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2]. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ba Nguyễn Thị Ánh T. - Buộc bị đơn ba Phan Thị H phải trả cho ba Nguyễn Thị Ánh T số tiền gôc là: 100.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triêu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3]. Về án phí:
Bị đơn ba Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000đồng.
Hoàn trả cho ba Nguyễn Thị Ánh T (Ông Trịnh Tấn L nộp) số tiền 3.750.000đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2023/0008314 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn co măt tại phiên tòa , có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên an . Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 25/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 25/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Krông A Na - Đăk Lăk |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 20/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về