Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 24/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 24/2024/DS-ST NGÀY 26/04/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Cẩm T , sinh năm 1969;

Địa chỉ: số 188, đường Lê Quang C, Khu phố 1, Phường 5, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;

- Bị đơn : Nguyễn Thị L , sinh năm 1965;

Địa chỉ: số 224, đường Lê Quang C, Khu phố 1, Phường 5, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Luật sư bảo vệ cho bà Nguyễn Thị Cẩm T : Luật sư Nguyễn Thị A – Văn Phòng Luật sư Nguyễn Thị A.

(Có mặt bà T, bà L và Luật sư)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai,biên bản hòa giải, tại Tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Vào tháng 6/2018 bà L có vay của bà số tiền 500.000.000 đồng, thỏa Tận lãi 0,9%/tháng, nhưng vì chỗ chị em ruột nên bà không yêu cầu bà L viết biên nhận tiền.

Đến tháng 10/2022 bà L tiếp tục vay 150.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng. Đến ngày 03/01/2023 sau khi đối chiếu nợ bà L viết biên nhận nợ xác nhận số tiền nợ là 650.000.000 đồng, bà L có hứa trả bà trong thời gian 5 tháng. Tuy nhiê n đến nay nhiều lần bà yêu cầu bà L trả nợ cho bà nhưng bà L hứa hẹn mà không trả nợ cho bà.

Nay bà yêu cầu bà L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ là 650.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 03/01/2023 đến 26/4/2024 (11 tháng) là 85.261.000 đồng tổng cộng 735.261.000 đồng. Làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Tại biên bản hòa giải và tại tại hôm nay bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà thống nhất số tiền nợ và lãi theo đơn khởi kiện của bà T. Nhưng hiện nay hoàn cảnh khó khăn bà xin được trả số nợ gốc là 650.000.000 đồng, nhưng mỗi tháng trả 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Đối với số tiền lãi bà xin bà T không trả khoản lãi nay.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T đã phân tích nội dung vụ án cho rằng bà L cố tình kéo dài thời gian trả nợ gây thiệt thòi cho bà T và đưa ra nhiều lý lẽ đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L trả cho bà T số tiền nợ là 650.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 03/01/2023 đến 25/4/2024 (15 tháng 23 ngày) là 85.261.000đồng tổng cộng 735.261.000 đồng. Làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa bà T và bà L là tranh chấp hợp đồng “ Hợp đồng vay tài sản” được xem xét, giải quyết theo Điều 463 Bộ luật dân sự và Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Vào tháng 6/2018 bà L có vay của bà số tiền 500.000.000 đồng, thỏa Tận lãi 0,9%/tháng, nhưng vì chỗ chị em ruột nên bà không yêu cầu bà L viết biên nhận tiền.

Đến tháng 10/2022 bà L tiếp tục vay 150.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng. Đến ngày 03/01/2023 sau khi đối chiếu nợ bà L viết biên nhận nợ xác nhận số tiền nợ là 650.000.000 đồng, bà L có hứa trả bà trong thời gian 5 tháng. Tuy nhiê n đến nay nhiều lần bà yêu cầu bà L trả nợ cho bà nhưng bà L hứa hẹn mà không trả nợ cho bà.

Nay bà yêu cầu bà L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ là 650.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 03/01/2023 đến 26/4/2024 là 85.261.000 đồng tổng cộng 735.261.000 đồng. Làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Xét thấy tại (giấy nợ) ngày 03/01/2023 bà L ghi và ký nhận số tiền nợ bà T tổng cộng là 650.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà L thừa nhận số nợ trên. Tuy nhiên do hoàn cảnh làm ăn T lỗ nên bà xin được trả số nợ gốc cho bà T, và xin không trả lãi. Đồng thời xin trả dần 06 tháng trả 1 lần 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Bà T không đồng ý và yêu cầu trả một lần số tiền nợ và lãi, vì thời gian đã lâu gây khó khăn đối với việc làm ăn của bà.

Xét thấy bà L đã vay số tiền của bà T từ năm 2018 và 2022 đến nay và nhiều lần bà T yêu cầu trả nợ như ng bà L hứa nhưng không thực hiện, đối với lãi suất các bên cũng thỏa Tận và không vượt quá quy định pháp luật. Do đó xét yêu cầu của bà T có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự.

[3] Xét trình bày của Luật sư bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, L phí Tòa án.

X ử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T .

Buộc bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm T số tiền nợ vay là 650.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 03/01/2023 đến 26/4/2024 là 85.261.000 đồng tổng cộng 735.261.000 đồng.Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Bà Nguyễn Thị L phải chịu 36.763.050 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 16.186.900 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0004644 ngày 02/01/2024 tại của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã C.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

116
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 24/2024/DS-ST

Số hiệu:24/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về