Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 22/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 22/2024/DS-ST NGÀY 29/02/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 249/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đua vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (gọi tắt là B); địa chỉ: T, A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện tham gia tố tụng: ông Nguyễn Văn Bé T1, chức vụ: giám đốc - Ngân hàng TMCP ĐI - Chi nhánh A; địa chỉ: số A L, Khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo Quyết định số 545/QĐ-BIDV ngày 22/6/2021 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ1 về việc ủy quyền tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án);

Người được ủy quyền lại:

- Bà Trần Ngô Minh T2 - chức vụ: Phó giám đốc - P - Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh A; vắng mặt;

- Ông Nguyễn Phước Đ - chức vụ: chuyên viên phòng quản lý khách hàng - Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh A - P (theo Quyết định số 581/QĐ-BIDV.AG ngày 13/10/2023); có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, ngày 08/07/2021, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh A - P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với ông Nguyễn Quốc K có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 01/2021/3163227/HĐTD ngày 08/07/2021 về việc Ngân hàng cho ông Nguyễn Quốc K vay tiêu dùng tín chấp Cán bộ công nhân viên với các nội dung như sau: Số tiền vay: 40.000.000 VNĐ (Bốn mươi triệu đồng); thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày 08/07/2021 đến ngày 08/07/2022; Lãi suất cho vay trong hạn: 11,5%/năm; lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ; lịch trả lãi: vào ngày 28 hàng tháng.

Do ông K đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận, nên Ngân hàng yêu cầu buộc ông Nguyễn Quốc K phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn là: 35.900.000 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm ngàn đồng chẵn) và tổng số tiền lãi (bao gồm lãi vay trong hạn và lãi vay quá hạn) tạm tính đến ngày 10/7/2023 là: 6.416.622 đồng (sáu triệu, bốn trăm mười sáu nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2021/3163227/HĐTD ngày 08/07/2021 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.

- Bị đơn Ông Nguyễn Quốc K vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nên không ghi nhận được ý kiến.

Các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2021/3163227/HĐTD ngày 08/7/2021, quyết định ủy quyền tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án số 545/QĐ-BIDV ngày 22/6/2021, quyết định về ủy quyền lại tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án dân sự số 581/QĐ-BIDV.AG ngày 13/10/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Ngân hàng trình bày, ông Nguyễn Quốc K sau khi ký hợp đồng đã thực hiện thanh toán cho Ngân hàng đầy đủ nợ gốc, lãi của hợp đồng hạn mức thấu chi, nhưng từ ngày 13/7/2022 ông K đã không thực hiện thanh toán, tại phiên tòa bổ sung bản tính lãi, ngoài ra công nhận các tài liệu, chứng cứ đã công bố, không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ nào khác; vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị ông K phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết, xác định số tiền nợ gốc, lãi ông K đã thanh toán là 4.588.000 đồng (trong đó trả được 4.100.000 đồng nợ gốc), từ ngày 13/7/2022 ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi, gốc đến nay chưa thanh toán, không yêu cầu tính lãi phạt 10% theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.

Tại phần tranh luận:

Đại diện Ngân hàng không tham gia phần tranh luận.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với ông K đã ký kết là hoàn toàn tự nguyện, ông K đã được giải ngân, nhưng quá trình thực hiện hợp đồng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi theo thỏa thuận từ ngày 13/7/2022 đến nay không thanh toán, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1, buộc ông K phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 48.927.711 đồng (trong đó nợ gốc: 35.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 6.834.961 đồng, nợ lãi quá hạn 6.192.750 đồng), tạm tính đến ngay 28/02/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi cho vay theo hình thức hợp đồng tín dụng; bị đơn đang cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang, các đương sự khi giao kết hợp đồng không có mục đích lợi nhuận, nên quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng, sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập đương sự hợp lệ. Tuy nhiên, ông K vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc ủy quyền tham gia tố tụng: Ngân hàng ủy quyền cho ông Đ tham gia tố tụng phù hợp với quy định tại Điều 85, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên ông Đ có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ đương sự theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Hội đồng xét xử, xét thấy: ngày 08/7/2021, giữa ông Nguyễn Quốc K với Ngân hàng TMCP Đ1, đơn vị trực tiếp quản lý khánh hàng Chi nhánh A - P1 đã ký kết hợp đồng cấp hạn mức thấu chi (áp dụng đối với khánh hàng vay thấu chi phục vụ nhu cầu đời sống không có TSBĐ) số 01/2021/3163227/HĐTD, với số tiền vay 40.000.000 đồng, mục đích sử dụng hạn mức thấu chi: phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân bên vay và gia đình, thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng, kể từ ngay ký hợp đồng, lãi suất thấu chi: 11,5%/năm, lãi suất quá hạn (áp dụng với nợ gốc quá hạn) 150%/năm x lãi suất trong hạn; lãi suất châm trả (áp dụng với số tiền lãi chậm trả) 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Do ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 13/7/2022, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Theo quy định tại Điều 2, 3 ( phù hợp với mục 1,2,4 và 7) hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2021/3163227/HĐTD ngày 08/7/2021; Điều 351, 353, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng thì ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi theo thỏa thuận, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay của ông K sang nợ quá hạn từ ngày 13/7/2022 là phù hợp theo sự thỏa thuận của các bên, việc giao kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, có lập văn bản, sau khi giao kết Ngân hàng đã thực hiện giải ngân đầy đủ số tiền 40.000.000 đồng; đến nay ông K cũng chua thực hiện thanh toán dư nợ gốc còn lại theo thỏa thuận. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện ông K là có cơ sở, ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K, nhưng ông không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, nên ông K đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, yêu cầu của Ngân hàng buộc ông K phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 48.927.711 đồng (trong đó: vốn 35.900.000 đồng, lãi vay 6.834.961 đồng (với lãi suất 11%/năm, ông K đã không thực hiện nghĩa vụ trả lãi từ ngày 13/7/2022 đến ngày 28/02/2024 là 596 ngày), lãi phạt quá hạn gốc 6.192.750 đồng (với lãi suất là 17,25%/năm, ông K vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên Ngân hàng chuyển lãi quá hạn từ ngày 13/7/2022 đến ngày 28/02/2024 là 596 ngày). Đối với phần tính lãi phạt quá hạn theo thỏa thuận 10%/năm theo hợp đồng tín dụng tại phiên tòa đại diện Ngân hàng vẫn xác định không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.2] Kể từ ngày 29/02/2024, ông Nguyễn Quốc K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chua thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận giữa Ngân hàng với khánh hàng, cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 351, 352, 353, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 14, khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 các Điều 147, 157, 217, 227, 228, 244, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1; buộc ông Nguyễn Quốc K trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh A - Phòng G đại diện với tổng số tiền 48.927.711 đồng (trong đó: vốn 35.900.000 đồng, lãi vay 6.834.961 đồng, lãi phạt quá hạn gốc 6.192.750 đồng), tính đến ngày 28 tháng 02 năm 2024.

Kể từ ngày 29/02/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với khách hàng vay. Truông hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với lãi suất của bên cho vay.

- Không xem xét, quyết định đối với phần lãi quá hạn theo thỏa thuận là 10%/năm, do Ngân hàng TMCP Đ1 không yêu cầu.

2. Về án phí:

2.1. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh A - Phòng G đại diện số tiền 1.058.000 đồng (một triệu, không trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0014044 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

2.2. Ông Nguyễn Quốc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 2.446.386 đồng (hai triệu, bốn trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm tám mươi sáu đồng), ông K có nghĩa vụ nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

123
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 22/2024/DS-ST

Số hiệu:22/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về