Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 21/2025/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 21/2025/DS-ST NGÀY 22/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 827/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 507/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần S; địa chỉ: Số 128 N, phường B, thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông K NAPAT

Người đại diện theo uỷ quyền là ông Trần Thanh T, sinh năm 1989 – Nhân viên công ty; địa chỉ cư trú: Số 35 LTK, khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy ngày 01/12/2023 – vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ngô Thái K; sinh năm: 1985; địa chỉ cư trú: Số 113 ấp TLB, xã TD, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn Công ty cổ phần S trình bày: Vào ngày 08/11/2023 anh Ngô Thái K có cầm cố và thế chấp tài sản với công ty cổ phần S chi nhánh Cà Mau (sau đây gọi tắt là công ty) theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ký ngày 08/11/2023. Tài sản cầm cố là một xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha MXKING, biển số 69F1- xxx77, giấy chứng nhận đăng ký xe do anh K đứng tên. Số tiền cầm cố là 25.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 18 tháng, mục đích cầm cố để sử dụng cá nhân, lãi suất cầm cố 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ 3,9%/tháng. Ngoài ra, khi thanh toán quá hạn còn phải chịu phí phạt bằng 50%/lãi suất quy định và phí quản lý hồ sơ. Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc nên ngay ngày cầm cố anh K đã xin mượn lại chiếc xe và cam kết theo nội dung giấy mượn xe, thời hạn mượn một tháng từ ngày 08/11/2023 đến ngày 08/12/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng anh K đã trả cho công ty đến ngày 08/3/2024 số tiền vốn là 9.340.000 đồng, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng. Nay công ty yêu cầu anh K phải trả cho công ty số tiền tính đến ngày 08/01/2025 là 22.249.630 đồng, trong đó tiền vốn là 20.044.720 đồng, tiền lãi trong hạn 1,1% tính từ ngày chậm thanh toán ngày 08/4/2023 đến ngày 08/01/2025 là 2.204.919 đồng, khi anh K thanh toán xong nợ công ty sẽ trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh K.

* Bị đơn anh Ngô Thái K: Không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của công ty.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Anh Trần Thanh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Ngô Thái K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về phạm vi khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án công ty thay đổi yêu cầu khởi kiện về viêc không yêu cầu anh K trả lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kết kể từ ngày xét xử cho đến khi thanh toán nợ. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu này của công ty là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên được chấp nhận.

Về nội dung vụ án: Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu anh Ngô Thái K phải trả cho công ty số tiền anh K còn nợ công ty theo hợp đồng cầm cố anh K đã ký kết với công ty vào ngày 08/11/2023. Quá trình giải quyết vụ án anh K không phản đối yêu cầu khởi kiện của công ty. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét nội dung khởi kiện của công ty thấy rằng: Theo các tài liệu công ty cung cấp cho Tòa án thể hiện: Vào ngày 08/11/2023 anh K có ký kết hợp đồng cầm cố với công ty, theo đó anh K có cầm cố một xe máy cho công ty để vay số tiền vốn là 25.00.000 đồng, thời hạn vay 18 tháng, kèm theo các khoản lãi suất theo hợp đồng. Xét thấy, khi anh K giao dịch ký kết hợp đồng cầm cố với công ty là do tự nguyện, có kèm theo tài sản cầm cố, nội dung ký kết hợp đồng, lãi suất phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Trong quá trình vay anh K đã vi phạm nghĩa vụ theo nội dung hợp đồng đã ký kết. Do đó, công ty khởi kiện yêu cầu anh K phải trả số tiền vốn, lãi đến ngày 08/01/2025 số tiền 22.249.630 đồng là có căn cứ được chấp nhận.

[3] Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy nêu trên hiện nay công ty đang giữ nên buộc công ty phải trả lại cho anh K là phù hợp. Đối với chiếc xe máy anh K cầm cố cho công ty nhưng ngay khi ký hợp đồng anh K đã mượn lại và sử dụng cho đến nay, công ty không đặt ra yêu cầu gì đối với xe này nên không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh K phải chịu án phí tương ứng số tiền phải trả cho công ty. Công ty không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244, và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sgay.

Buộc anh Ngô Thái K phải trả cho Công ty cổ phần Sgay số tiền vốn và lãi đến ngày 08/01/2025 là 22.249.630 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi đồng) (trong đó tiền vốn là 20.044.720 đồng, tiền lãi là 2.204.919 đồng).

Kể từ ngày Công ty cổ phần Sgay có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Ngô Thái K không chịu trả số tiền trên, thì hàng tháng anh Ngô Thái K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Buộc Công ty cổ phần Sgay phải trả cho anh Ngô Thái K giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008339, biển số đăng ký 69F1- xxx.77 cấp ngày 25/01/2022.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ngô Thái K phải chịu 1.112.481 đồng (một triệu một trăm mười hai nghìn bốn trăm tám mươi mốt đồng). Công ty cổ phần Sgay không phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Sgay số tiền đã nộp tạm ứng là 527.000 đồng (năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002264 ngày 02/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 21/2025/DS-ST

Số hiệu:21/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về