TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
BẢN ÁN 17/2024/DS-ST NGÀY 16/10/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024; giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Mai Văn T - Sinh năm 1961 Địa chỉ: Thôn Lục Hải, xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
2/ Bị đơn: Anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) - Sinh năm 1975 Chị Hng Thị Vân - Sinh năm 1980
- Người được chị Vân uỷ quyền lại: Anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) - Sinh năm 1975; (có mặt) Cùng địa chỉ: Thôn 7, xã Nga Liên, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Văn H - Công ty Luật Bắc Miền Trung, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hoá Điạ chỉ: Khu đô thị Nam Trần Phú, phường B, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/7/2024, bản tự khai, nguyên đơn ông Mai Văn T trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, ngày 25/5/2024, ông cho anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) và chị Hng Thị Vân vay số tiền là 1.518.000.000đ (Một tỷ năm trăm mười tám triệu đồng). Khi vay anh L, chị Vân viết giấy vay tiền cho ông, tại mục người vay anh L ký “Đinh Duy L”, vợ ký “Vân, Hng Thị Vân”; thời hạn vay là 01 tháng; mục đích vay để đầu tư vào kinh doanh hàng nội thất; lãi suất thoả thuận bằng miệng. Sau khi vay anh L, chị Vân không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, chỉ hứa hẹn nhưng không có động thái trả nợ Để đảm bảo quyền lợi, ông đề nghị anh L, chị Vân trả số tiền vay trên cho ông; về lãi suất: anh L, chị Vân thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính từ ngày 25/5/2024 đến ngày 25/7/2024, cụ thể: 1.518.000.000đ x 1,66%/tháng x 2 tháng = 50.398.000đ. Tổng tiền gốc và lãi anh L, chị Vân thanh toán cho ông là 1.568.398.000đ (Một tỷ năm trăm sáu tám triệu ba trăm chín tám nghìn đồng).
* Ý kiến bị đơn:
- Tại bản tự khai đề ngày 02/8/2024, anh Đinh Văn L trình bày: Việc vay mượn giữa anh và ông Mai Văn T được thực hiện nhiều năm trước đó. Trước khi chốt nợ vào ngày 25/5/2024 thì anh đã thanh toán tiền gốc, lãi và một số tài sản kèm theo. Giấy ghi nợ ngày 25/5/2024 là anh Viết và ký nhận. Thời điểm anh viết giấy là không có mặt vợ anh nên chị Hng Thị Vân không thực hiện ký tên trên giấy vay tiền. Sau khi viết giấy nhận nợ vào ngày 25/5/2024, anh còn gạt nợ bằng bàn ghế, tủ, kệ đồng hồ và các hàng nội thất khác. Số tiền gạt nợ đến nay vẫn chưa được ông T trừ vào số nợ tại giấy vay tiền mà ông T đang khởi kiện. Anh không đồng ý nội dung ông T khởi kiện về tiền gốc, lãi. Số tài sản anh gạt nợ cho ông T, anh xin được thống kê từng loại và xuất trình sau cho Toà án. Ngoài ra, anh L trình bày tên gọi của anh là Đinh Văn L, nhưng khi ký giấy vay tiền cho ông T, anh ghi là Đinh Duy L do mọi người gọi theo thói quen trên zalo, Fb là “Đinh Duy L”, nhưng thực tế chỉ là một người và sinh sống tại thôn 7, xã Nga Liên, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Tại bản tự khai đề ngày 14/8/2024, anh Đinh Văn L trình bày bổ sung: Việc vay tiền của gia đình anh với ông T được thực hiện từ ngày 12/3/2022 âm lịch, có thoả thuận lãi suất bằng miệng, mức lãi trả trên tháng. Số tiền gốc và lãi cộng lại là 2.430.000.000đ (Hai tỷ bốn trăm ba mươi triệu đồng). Do gia đình làm ăn thua lỗ nên không còn khả năng thanh toán bằng tiền mặt nên anh đã trả cho ông T 01 lô đất diện tích 435m2 ở Hà Vinh, Hà Trung, Thanh Hoá, giá trị 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng), anh mua chung với bà Phạm Thị Ngọc nên khi gạt nợ cho ông T được tính ½ giá trị là 350.000.000đ; tổng số tiền trả bằng tài sản được ghi chi tiết trên giấy là 185.350.000đ. Anh đề nghị được đối trừ nợ vào tiền gốc ông T đang khởi kiện.
- Tại bản tự khai đề ngày 05/8/2024, chị Vân trình bày: Chị và chồng chị là anh Đinh Văn L có quen biết ông T. Chị nghe chồng chị là anh L nói có vay tiền ông T để đầu tư làm kinh tế, số tiền vay bao nhiêu vào thời gian nào chị không nhớ rõ. Từ tháng 5/2024 do công việc kinh doanh của vợ chồng chị gặp khó khăn nên ông T đã đến đòi lại tiền ông cho chồng chị vay. Vợ chồng chị đã gạt nợ cho ông T 01 thửa đất, các kiốt bán hàng ở chợ và nhiều đồ gỗ nội thất khác. Ngày 25/5/2024, chồng chị có viết giấy vay tiền cho ông T với số tiền 1.518.000.000đ là không có thật. Chị biết thời điểm này chồng chị không vay tiền ông T như nội dung giấy vay tiền mà ông T nộp cho Toà án để khởi kiện vợ chồng chị. Chị không chứng kiến việc giấy vay tiền đề ngày 25/5/2024, chị không ký giấy vay tiền và cũng không nhận tiền vay của ông T. Nay Toà án đưa chị vào vụ án với tư cách là bị đơn, chị cho rằng là không đúng với quy định của pháp luật và giấy vay tiền ông T sử dụng làm bằng chứng khởi kiện vợ chồng chị là không đúng đối tượng khởi kiện. Chị đề nghị xem xét lại tư cách tố tụng của chị trong vụ án. Đồng thời, chị Vân có văn bản uỷ quyền để anh L tham gia tố tụng trong vụ án thay chị.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 19/8/2024, nguyên đơn ông Mai Văn T và anh Đinh Văn L thống nhất đồng ý trừ số tiền anh L gạt nợ mua hàng cho ông T là 185.350.000đ, nên số tiền nợ gốc còn nợ là 1.332.650.000đ; về lãi suất: hai bên thống nhất mức lãi suất tính là 1%/tháng (tính từ ngày 25/5/2024 đến ngày hoà giải 19/8/2024 là 02 tháng 24 ngày (ông T đồng ý tính lãi tròn là 2 tháng, cho anh L 24 ngày, không tính lãi), cụ thể:
1.332.650.000đ x 2 tháng x 1%/tháng = 26.653.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi anh L, chị Vân phải thanh toán cho là: 1.332.650.000đ + 26.653.000đ =1.359.303.000đ (Một tỉ, ba trăm năm mươi chín triệu ba trăm linh ba nghìn đồng). Về thời gian trả nợ: anh L, chị Vân trả số tiền lần đầu là 500.000.000đ vào ngày 29/8/2024, số tiền còn lại là 859.303.000đ anh L, chị Vân phải có trách nhiệm trả cho ông mỗi tháng là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); thời gian trả nợ thực hiện từ ngày 01/01/2025 cho đến khi trả xong khoản nợ trên. Ý kiến của bị đơn anh L: Về thời gian ông T yêu cầu, đề nghị cho anh thêm thời gian để anh bàn bạc thêm với gia đình.
Ngày 29/8/2024, anh L có đơn đề nghị Toà án thực hiện việc trưng cầu chữ ký trên giấy vay tiền có tên “Vân- Hng Thị Vân” do ông T đang khởi kiện. Về chi phí trưng cầu giám định nếu bên nào thua kiện thì phải chịu theo quy định.
Ngày 29/8/2024, nguyên đơn ông Mai Văn T có đơn đề nghị Toà án thực hiện trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết “Vân- Hng Thị Vân” trên giấy vay tiền tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá, để đảm bảo quyền khởi kiện của ông. Ngoài các giấy tờ liên quan đến chữ ký, chữ viết do bị đơn xuất trình, ông T còn cung cấp thêm giấy tờ là 01 phiếu thu, lập ngày 29/11/2021 và 01 giấy chuyển nhượng, viết tay đề ngày 29/5/2024 có chữ ký, chữ viết của “Vân- Hng Thị Vân” để Toà án thực hiện việc trưng cầu giám định theo quy định.
Tại phiên đối chất ngày 05/9/2024 anh L, chị Vân vắng mặt không không có lý do. Do đó, việc đối chất giữa nguyên đơn và bị đơn không tiến hành được. Do anh L không thực hiện việc yêu cầu giám định, nên ông T đã tạm nộp chi phí Trưng cầu giám định để Toà án thực hiện việc trưng cầu theo quy định đối với yêu cầu .
* Ngày 06/9/2024, Toà án ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 02/2024/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, thực hiện giám định:
- Chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân” tại “Giấy vay tiền đề ngày 25/05/2024” và chữ ký “Vân” tại “Bản tự khai”, đánh máy đề ngày 05/8/2024; chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân” tại các văn bản: “Đơn mời luật sư, đánh máy đề ngày 19/8/2024; “Hợp đồng uỷ quyền”, đánh máy đề ngày 08/08/2024; “Giấy chuyển nhượng”, viết tay lập ngày 29/05/2024 và “Phiếu thu” đánh máy đề ngày 29/11/2021 có phải do cùng một người ký và viết ra hay không? - Các tài liệu và mẫu so sánh gửi kèm bao gồm:
+ Đối tượng giám định: 01 Giấy vay tiền đề ngày 25/05/2024 (bản gốc), có chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân” + Mẫu so sánh, gồm: 05 tài liệu, giấy tờ: Bản tự khai, đánh máy đề ngày 05/8/2024 có chữ ký “Vân”; Đơn mời luật sư, đánh máy đề ngày 19/8/2024 có chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân”; Hợp đồng uỷ quyền, đánh máy đề ngày 08/08/2024 có chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân”; Giấy chuyển nhượng, viết tay lập ngày 29/05/2024 có chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân”; Phiếu thu, đánh máy đề ngày 29/11/2021 có chữ ký, chữ viết “Vân”, “Hng Thị Vân”;
Tại Kết luận giám định số 3339/KL-KTHS, ngày 13/9/2024, kết luận về đối tượng giám định: “Chữ ký dạng viết “Vân”, chữ viết “Hng Thị Vân” dưới mục “Vợ” ở mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký dạng chữ viết “Vân”, chữ viết “Hng Thị Vân” ở mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M5) do cùng một người viết ra. Kèm theo kết luận: không. Hn lại đối tượng giám định: đối tượng giám định.
Ngày 18/9/2024, ông T có đơn đề nghị Toà án bổ sung thêm một số nội dung sau:
- Yêu cầu anh L, chị Vân thanh toán tiền nợ gốc còn là 1.332.650.000đ (Một tỉ ba trăm ba mươi hai triệu sáu trăm năm mười nghìn đồng). Về lãi suất: mức tính là 1%/tháng, thời gian tính lãi từ 25/5/2024 đến khi vụ án được xét xử (16/10/2024), ông đồng ý tính tròn tháng, còn ngày lẻ thì ông không yêu cầu gì đối với anh L, chị Vân - Về chi phí trưng cầu giám định ông tự nguyện chịu, không yêu cầu anh L, chị Vân phải thanh toán lại chi phí cho ông.
- Không yêu cầu đưa vợ ông là bà Đới Thị Huấn vào tham gia tố tụng trong vụ án là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay là người làm chứng.
Do các đương sự không thống nhất nội dung giải quyết, nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu đã trình bày. Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trần Văn H, vắng mặt; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn: anh L chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định, chị Vân không chấp hành các quy định .
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn T, buộc anh Đinh Văn L, chị Hng Thị Vân phải thanh toán tiền nợ gốc 1.332.650.000đ; tiền lãi: tính từ ngày 25/5/2024 đến ngày 16/10/2024 là 04 tháng 21 ngày (tính tròn 04 tháng), cụ thể: 1.332.650.000đ x 04 tháng x 1%/tháng= 53.306.000đ; tổng cộng, tiền gốc và Lãi anh L, chị Vân phải thanh toán cho ông T là 1.385.956.000đ. Về án phí: Anh L, chị Vân phải chịu án phí DSST theo quy định.
Về chi phí trưng cầu giám định: Ông T không yêu cầu đối với anh L, chị Vân phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị HĐXX miễn xét
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.
Về sự vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là ông Trần Văn H, có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
* Về nội dung vụ án:
[1] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo giấy vay tiền, viết tay đề ngày 25/5/2024, số tiền anh L, chị Vân nợ ông T là 1.518.000.000đ (Một tỷ năm trăm mười tám triệu đồng). Ông T đồng ý trừ tiền anh L gạt một số tài sản cho ông là 185.350.000đ, số tiền gốc còn nợ là 1.332.650.000đ (Một tỉ ba trăm ba mươi hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Về lãi suất: tính từ ngày 25/5/2024 đến ngày 16/10/2024 là 04 tháng 21 ngày (ông T đồng ý tính tròn 04 tháng), cụ thể:
1.332.650.000đ x 04 tháng x 1%/tháng = 53.306.000đ. Tổng cộng gốc và lãi anh L, chị Vân phải thanh toán cho ông là 1.385.956.000đ (Một tỷ ba trăm tám lăm triệu chín trăm năm sáu nghìn đồng).
[2] Xét việc bị đơn vay tiền của nguyên đơn: Về số tiền vay, ngày tháng năm vay; thời hạn trả nợ, anh L thống nhất như nguyên đơn yêu cầu. Lý do anh không trả nợ được do công việc kinh doanh của gia đình gặp nhiều khó khăn. Anh đề nghị đối trừ số tiền gạt tài sản cho ông T là 185.350.000đ, số tiền gốc còn nợ là 1.332.650.000đ (Một tỉ ba trăm ba mươi hai triệu sáu trăm năm mười nghìn đồng).
Về lãi suất, mức lãi suất ông T đề nghị, thời gian tính lãi anh hoàn toàn nhất trí.
Đối với chị Vân: chị không thừa nhận chữ ký, chữ viết của chị và không liên quan đến việc vay tiền của anh L với ông T. Tuy nhiên, chị lại có văn bản uỷ quyền cho anh L tham gia tố tụng trong vụ án cho chị. Mặt khác, anh L đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết “Vân- Hng Thị Vân” trên giấy vay tiền, lập ngày 25/5/2024 do anh viết để vay tiền của ông T.
[3] Xét giấy vay tiền lập ngày 25/5/2024 có chữ ký, chữ viết Đinh Duy L, Hng Thị Vân: Anh L đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết “Vân- Hng Thị Vân” trên giấy vay tiền do nguyên đơn khởi kiện. Để có căn cứ tghuwcj hiện việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của chị Vân, Toà án đã tiến hành cho các bên đương sự tham gia đối chất nhưng anh L, chị Vân vắng mặt không có lý do. Để chứng minh yêu cầu nguyên đơn là có cơ sở nên ông T có đơn đề nghị Toà án thực hiện việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của chị Vân trên giấy vay tiền theo quy định.Tại Kết luận giám định số 3339/KL-KTHS, ngày 13/9/2024, kết luận về đối tượng giám định: “Chữ ký dạng viết “Vân”, chữ viết “Hng Thị Vân” dưới mục “Vợ” ở mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký dạng chữ viết “Vân”, chữ viết “Hng Thị Vân” ở mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M5) do cùng một người viết ra. Kèm theo kết luận: không. Hn lại đối tượng giám định: đối tượng giám định.
Như vậy, có căn cứ xác định chữ ký, chữ viết trên giấy vay tiền có liên quan đến chị Vân. Do đó việc ông T khởi kiện anh L, chị Vân là đồng bị đơn trong vụ án là có có cơ sở nên HĐXX chấp nhận xem xét.
[4] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về số tiền vay, ngày vay tại giấy vay tiền đã được anh L viết cho ông T, có đầy đủ chữ ký anh L, chị Vân. Do anh L, chị Vân vi phạm cam kết trả nợ nên ông T yêu cầu anh L, chị Vân thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc còn nợ là 1.332.650.000đ; về lãi suất, ông T yêu cầu tính từ ngày 25/5/2024 đến ngày 16/10/2024 là 04 tháng 21 ngày (ông T đồng ý tính tròn 04 tháng), cụ thể: 1.332.650.000đ x 04 tháng x 1%/tháng = 53.306.000đ. Tổng cộng gốc và lãi anh L, chị Vân phải thanh toán cho ông là 1.332.650.000đ + 53.306.000đ =1.385.956.000đ (Một tỷ ba trăm tám lăm triệu chín trăm năm sáu nghìn đồng), có căn cứ nên HĐXX chấp nhận xem xét.
[5] Về chi phí trưng cầu giám định: Ông T tự nguyện chịu chi phí trưng cầu giám định, không yêu cầu đối với anh L, chị Vân nên HĐXX miễn xét.
[6] Về án phí: Anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) và chị Hng Thị Vân phải chịu án phí DSST theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí kèm theo.
Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn T, buộc anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) và chị Hng Thị Vân phải có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc là 1.332.650.000đ; tiền lãi là 53.306.000đ; tổng cộng: 1.385.956.000đ (Một tỷ ba trăm tám lăm triệu chín trăm năm sáu nghìn đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Về án phí: Anh Đinh Văn L (Đinh Duy L) và chị Hng Thị Vân phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (DSST) là 53.578.680đ (Năm ba triệu năm trăm bảy tám nghìn sáu trăm tám mươi đồng) 3/ Quyền kháng cáo: Ông T, anh L có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Vân có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 17/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 17/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 16/10/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về