Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 156/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 156/2024/DS-ST NGÀY 10/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý  số 233/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử  số 910/2023/QĐXX-ST ngày 27/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 934/2024/QĐST-DS ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Hải N, sinh năm 1979 Địa chỉ: 3 T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ liên hệ: 2 L, phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H; sinh năm 1996 và ông Trần Anh T, sinh năm 1999; Địa chỉ: 2 L, phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 003594 quyển số 08/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/11/2022 của Văn phòng C Nguyễn Thanh H1). (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh G - sinh năm 1973. (Vắng mặt) Địa chỉ: 3 tổ A, ấp C, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người làm chứng: ông Nguyễn Minh Đ - Sinh năm: 1981 (có mặt) Thường trú: 46/15 Đường B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 04/10/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 03/01/2023; ngày 30/10/2023 các biên bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Phạm Hải N ủy quyền cho Ông Nguyễn Xuân H và ông Trần Anh T trình bày:

- Ngày 05/5/2020 ông Phạm Hải N với ông Trần Thanh G có ký Hợp đồng cho cá nhân vay tiền, theo đó: ông Trần Thanh G vay ông Phạm Hải N số tiền là 1.600.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ sáu trăm triệu đồng) với lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 06 tháng (kể từ ngày 05/5/2020 đến ngày 05/11/2020) ông G nhận đủ tiền và quá trình thực hiện ông G không trả lãi, gốc.

- Ngày 24/7/2020, ông Trần Thanh G tiếp tục vay thêm ông Phạm Hải N số tiền là 2.100.000.000 đồng (bằng chữ: Hai tỷ một trăm triệu đồng) theo Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020, với lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 06 tháng (kể từ ngày 24/7/2020 đến ngày 24/1/2021), ông G nhận đủ tiền và quá trình thực hiện ông G không trả lãi, gốc.

Để đảm bảo khoản các vay nêu trên, ông Trần Thanh G đã thế chấp cho ông Phạm Hải N quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 710, 711, 712 tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008. Đồng thời ông Trần Thanh G đã ký tại Văn phòng C hợp đồng ủy quyền  số 002609 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/4/2020 cho ông Phạm Hải N (bao gồm: quản lý sử dụng, mua bán chuyển nhượng…) và giao cho ông Phạm Hải N nắm giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên. Tuy nhiên kể từ ngày ký kết Hợp đồng cho cá nhân vay tiền cho đến nay, ông Trần Thanh G không trả cho ông Phạm Hải N bất kỳ khoản tiền nào. Mặc dù ông Phạm Hải N đã rất nhiều lần liên hệ, thông báo yêu cầu ông Trần Thanh G trả tiền nhưng ông Trần Thanh G vẫn cố tình trốn tránh, không thực hiện.

1. Đối với hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 thì số tiền lãi là 1.978.666.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024 được tính như sau:

- Số tiền lãi trong hạn từ ngày 05/5/2020 đến ngày 05/11/2020 theo quy định pháp luật (20%/năm) là 1.600.000.000 đồng x 20%/năm x 06 (tháng) = 160.000.000 đồng;

- Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 06/11/2020 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 160.000.000 đồng x 10%/năm x 44 (tháng) = 58.666.000 đồng;

- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 06/11/2020 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 1.600.000.000 đồng x 150% x 20%/năm x 44 (tháng) = 1.760.000.000 đồng.

2. Đối với hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 thì số tiền lãi là 2.508.391.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024 được tính như sau:

- Số tiền lãi trong hạn từ ngày 24/7/2020 đến ngày 24/01/2021 theo quy định pháp luật (20%/năm) là 2.100.000.000 đồng x 20%/năm x 06 (tháng) = 210.000.000 đồng;

- Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 25/01/2021 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 210.000.000 đồng x 10%/năm x 42 (tháng) 11 ngày = 74.141.000 đồng;

- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 25/01/2021 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 2.100.000.000 đồng x 150% x 20%/năm x 42 (tháng) 11 ngày = 2.224.250.000 đồng.

Tại tòa ông Nguyễn Xuân H, ông Trần Anh T đại diện ủy quyền cho ông Phạm Hải N yêu cầu ông Trần Thanh G trả số tiền tạm tính đến ngày 06/7/2024 tổng cộng những khoản nợ trên cả gốc và lãi là 8.187.057.000 đồng trả ngay một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc 3.700.000.000 đồng và lãi suất 4.487.057.000 đồng theo Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020. Ngoài ra ông Nguyễn Xuân H, ông Trần Anh T đại diện ủy quyền cho ông Phạm Hải N không yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày 07/07/2024 cho đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì buộc bị đơn trả lãi theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 710, 711, 712, tờ bản đồ  số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban Nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Trần Thanh G ngày 12/8/2008 trong Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020.

- Bị đơn ông Trần Thanh G không có phần trình bày do bị đơn không đến Tòa án tiến hành các thủ tục tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nghe xét xử vụ án. Mặc dù đã tiến hành thủ tục tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng.

- Người làm chứng ông Nguyễn Minh Đ trình bày tại bản tự khai và tại phiên tòa cam đoan lời khai là đúng sự thật, xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật như sau:

Thứ nhất, ông Trần Thanh G có vay của ông Phạm Hải N tổng số tiền là 3.700.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) theo hai (02) Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập vào các ngày 05/5/2020 và ngày 24/7/2020. Đồng thời, ông G cũng đã thế chấp Quyền sử dụng đất đối với 3 thửa đất  số 710, 711, 712, tờ bản đồ  số 55, địa chỉ : xã H, huyện N, TP . cho ông N nhằm đảm bảo các khoản vay này. Tại thời điểm ký kết, cả hai bên đều tự nguyện, tham gia ký kết hợp đồng;

Thứ hai, sau khi ký các Hợp đồng vay trên, ông N đã giao đủ số tiền và ông G cũng đã nhận đủ số tiền là 3.700.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) trong cả hai (02) lần vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn ông Trần Thanh G trả số tiền như nguyên đơn yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Hải N khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh G thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/7/2024 tổng cộng những khoản nợ trên cả gốc và lãi là 8.187.057.000 đồng trong đó gốc 3.700.000.000 đồng và lãi suất 4.487.057.000 đồng theo Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020. Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản, ông Trần Thanh G cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng bị đơn ông Trần Thanh G đến Tòa án để giải quyết, xét xử nhưng bị đơn vẫn không đến, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Thanh G.

[1.2] Ông Phạm Hải N và bà Nguyễn Thị Thanh T1 là vợ chồng sự việc ông Phạm Hải N có cho ông Trần Thanh G vay số tiền gốc 3.700.000.000 đồng theo hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 thì bà T1 xác định đó là tài sản riêng ông N đề nghị không triệu tập bà T1 với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo văn bản trình bày ý kiến ngày 08/7/2024. Do đó không xác định bà Nguyễn Thị Thanh T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Hải N yêu cầu ông Trần Thanh G phải trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho ông Phạm Hải N tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/7/2024 tổng cộng số tiền là 8.187.057.000 đồng trong đó gốc 3.700.000.000 đồng và lãi suất 4.487.057.000 đồng theo Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020. Ngoài ra ông Phạm Hải N không yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày 07/07/2024 cho đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì buộc bị đơn trả lãi theo quy định pháp luật. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình trong giai đoạn xét xử nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 giữa ông Phạm Hải N và ông Trần Thanh G; Người làm chứng ông Nguyễn Minh Đ chứng kiến việc vay mượn tiền gốc 3.700.000.000 đồng theo hai hợp đồng nêu trên.

[2.1] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các thông báo kết quả phiên họp và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Nhưng bị đơn ông Trần Thanh G đều không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như không có yêu cầu phản đối các chứng cứ nguyên đơn cung cấp. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có thể khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là hợp lệ do đó Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá chứng cứ nêu trên.

[2.2] Xét hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 có chữ ký ông Phạm Hải N và ông Trần Thanh G và người làm chứng ông Nguyễn Minh Đ chứng kiến ông N đưa cho ông G số tiền vay 1.600.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 06 tháng (kể từ ngày 05/5/2020 đến ngày 05/11/2020) ông G nhận đủ tiền và quá trình thực hiện ông G không trả lãi, gốc. Cho nên, có cơ sở xác định bị đơn ông G nhận đủ tiền vay 1.600.000.000 đồng và quá trình thực hiện ông G không trả gốc và lãi phù hợp theo Điều 463 và khoản 1 Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về phần lãi suất các bên thỏa thuận lãi suất 4%/tháng không phù hợp Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng phía nguyên đơn đã điều chỉnh lãi suất phù hợp Khoản 1 Điều 468 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó nguyên đơn tính lãi đối với hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 thì số tiền lãi là 1.978.666.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024 trong đó số tiền lãi trong hạn từ ngày 05/5/2020 đến ngày 05/11/2020 theo quy định pháp luật (20%/năm) là 1.600.000.000 đồng x 20%/năm x 06 (tháng) = 160.000.000 đồng; Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 06/11/2020 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 160.000.000 đồng x 10%/năm x 44 (tháng) = 58.666.000 đồng; Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 06/11/2020 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 1.600.000.000 đồng x 150% x 20%/năm x 44 (tháng) = 1.760.000.000 đồng. Như vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn phần tiền gốc 1.600.000.000 đồng và tiền lãi 1.978.666.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024.

[2.3] Xét hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 có chữ ký ông Phạm Hải N và ông Trần Thanh G và người làm chứng ông Nguyễn Minh Đ chứng kiến ông N đưa cho ông G số tiền vay 2.100.000.000 đồng, với lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 06 tháng (kể từ ngày 24/7/2020 đến ngày 24/1/2021), ông G nhận đủ tiền và quá trình thực hiện ông G không trả lãi, gốc. Cho nên, có cơ sở xác định bị đơn ông G nhận đủ tiền vay 2.100.000.000 đồng và quá trình thực hiện ông G không trả gốc và lãi phù hợp theo Điều 463 và khoản 1 Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về phần lãi suất các bên thỏa thuận lãi suất 4%/tháng không phù hợp Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng phía nguyên đơn đã điều chỉnh lãi suất phù hợp Khoản 1 Điều 468 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó nguyên đơn tính lãi đối với hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 thì số tiền lãi là 2.508.391.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024 trong đó số tiền lãi trong hạn từ ngày 24/7/2020 đến ngày 24/01/2021 theo quy định pháp luật (20%/năm) là 2.100.000.000 đồng x 20%/năm x 06 (tháng) = 210.000.000 đồng; Số tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 25/01/2021 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 210.000.000 đồng x 10%/năm x 42 (tháng) 11 ngày = 74.141.000 đồng; Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 25/01/2021 tạm tính đến ngày 06/7/2024 là 2.100.000.000 đồng x 150% x 20%/năm x 42 (tháng) 11 ngày = 2.224.250.000 đồng. Như vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn phần tiền gốc 2.100.000.000 đồng và tiền lãi 2.508.391.000 đồng tạm tính đến ngày 06/7/2024.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ông Phạm Hải N buộc ông Trần Thanh G phải trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 06/7/2024 số tiền là 8.187.057.000 đồng trong đó tiền gốc 3.700.000.000 đồng và lãi suất 4.487.057.000 đồng theo hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 và hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020.

Ghi nhận ông Phạm Hải N không yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày 07/07/2024 cho đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.3] Để bảo đảm cho việc hoàn trả đầy đủ vốn vay hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 thì ông Phạm Hải N với ông Trần Thanh G không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về hợp đồng đảm bảo cụ thể hợp đồng thế chấp tài sản không có công chứng theo quy định về tài sản quyền sử dụng đất theo quy định Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 đối với các thửa đất số 710, 711, 712 tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008. Đồng thời ông Trần Thanh G đã ký hợp đồng ủy quyền  số 002609 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/4/2020 tại Văn phòng C cho ông Phạm Hải N (bao gồm: quản lý sử dụng, mua bán chuyển nhượng…) và giao cho ông Phạm Hải N nắm giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên là đảm bảo khoản vay không đúng, không tuân thủ theo quy định pháp luật tại Điều 117 và Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Như vậy việc bảo đảm cho việc hoàn trả đầy đủ vốn vay hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 giữa ông Phạm Hải N với ông Trần Thanh G vô hiệu căn cứ Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015. Cho nên hợp đồng ủy quyền  số 002609 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/4/2020 tại Văn phòng C là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông N trả lại bản chính Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008 cho ông Trần Thanh G là giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 “... 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận...”. Do đó Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng ủy quyền  số 002609 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/4/2020 tại Văn phòng C vô hiệu buộc ông Phạm Hải N trả lại cho ông Trần Thanh G bản chính Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

[2.4] Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất đối với các thửa đất sau thửa đất số 710, 711, 712, tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban Nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Trần Thanh G ngày 12/8/2008 trong Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, Hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận nguyên đơn rút một phần yêu cầu có lợi cho bị đơn phù hợp Điều 5 và Điều 188, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đình chỉ về phần xử lý tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất đối với các thửa đất sau thửa đất số 710, 711, 712, tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban Nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Trần Thanh G ngày 12/8/2008 trong hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020, hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/12/2016. Xét án phí dân sự sơ thẩm bị đơn ông Trần Thanh G có giá ngạch 116.187.057 đồng do nghĩa vụ trả phần tiền 8.187.057.000 đồng cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 91; Điều 217; Điều 147; Điều 188; Điều 225; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117; Điều 122; Điều 124; Điều 131; Khoản 1 Điều 317; Điều 463; Điều 465; khoản 5 Điều 466; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Thanh G có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hải N trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 06/7/2024 số tiền là 8.187.057.000 đồng trong đó tiền gốc 3.700.000.000 đồng và lãi suất 4.487.057.000 đồng theo hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 và hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020.

Ghi nhận ông Phạm Hải N không yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày 07/07/2024 cho đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Giao dịch bảo đảm cho việc hoàn trả đầy đủ vốn vay các hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 và hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020 giữa ông Phạm Hải N với ông Trần Thanh G về tài sản là quyền sử dụng đất các thửa đất số 710, 711, 712 tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008 cho ông Trần Thanh G dưới hình thức hợp đồng ủy quyền  số 002609 quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/4/2020 tại Văn phòng C là giao dịch vô hiệu.

Buộc ông Phạm Hải N trả lại bản chính Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/8/2008 cho ông Trần Thanh G ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp ông Phạm Hải N không thực hiện trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì ông Trần Thanh G có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

3. Đình chỉ xét xử đối với phần xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất sau thửa đất số 710, 711, 712, tờ bản đồ số 55, địa chỉ xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận  số AM 161535, số vào sổ cấp GCN: H 04177 do Ủy ban Nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Trần Thanh G ngày 12/8/2008 trong hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 05/5/2020 và hợp đồng cho cá nhân vay tiền lập ngày 24/7/2020.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Trần Thanh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 116.187.057 đồng (Một trăm mười sáu triệu một trăm tám mươi bảy ngàn không trăm năm mươi bảy đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Nguyên đơn ông Phạm Hải N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Phạm Hải N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.386.500 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2022/0014312 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 156/2024/DS-ST

Số hiệu:156/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về