TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
BẢN ÁN 15/2024/DS-ST NGÀY 03/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 03/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2023/TLSTDS ngày 03/8/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 16/2024/QĐXX-DSST ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1982. Thường trú tại: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
2. Đồng bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966. Đều thường trú tại: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1977. Thường trú tại: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
4. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (chị Hoàng Thị T) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Đỗ Văn K) là: Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1953; Thường trú tại: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Theo Văn bản ủy quyền, lập ngày 01/8/2023).
Tại phiên tòa: Chị Hoàng Thị T, ông Đỗ Văn K, ông Đỗ Văn B, bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai, quan điểm của nguyên đơn (chị Hoàng Thị T), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Đỗ Văn K) và đại diện theo ủy quyền của chị T, anh K là ông Đỗ Văn B trong quá trình giải quyết vụ án cho biết:
Chị Hoàng Thị T, chồng là anh Đỗ Văn K và vợ chồng bà Trần Thị P, sinh năm 1971, ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966 hiện trú tại thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên có quan hệ họ hàng và ở gần nhà nhau, có đi lại chơi với nhau. Vợ chồng bà P, ông X mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc và có nhu cầu vay vốn làm ăn nên đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng chị. Trong đó mọi công việc kinh doanh của gia đình bà P, ông X đều do bà P đứng ra quán xuyến nên bà P thường trực tiếp đứng ra nhận các khoản vay và ký giấy. Cụ thể đã vay của vợ chồng chị như sau: - Vào ngày 30/12/2015, bà P vay của anh K số tiền 50.000.000đ; - Vào ngày 30/7/2016, bà P vay của chị T số tiền 61.500.000đ; - Vào ngày 30/12/2016, bà P vay của chị T hai lần: Lần 1 với số tiền là 100.000.000đ và lần 2 vay số tiền là 150.000.000đ. Tổng các lần vay và đến nay còn nợ tiền gốc là: 361.500.000đ. Khi vay, bà P có lập giấy vay và trực tiếp bà P ký vào giấy vay, bao gồm ký thay cả phần chữ ký của ông X do về kinh tế gia đình do bà P nắm, quán xuyến nhưng giữa hai bên không cầm cố, thế chấp bằng tài sản gì và không liên quan đến ai khác. Mặc dù đã đốc thúc nhiều lần nhưng bà P, ông X không thực hiện việc trả nợ. Vậy nay chị T, anh K đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà P, ông X có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng chị số tiền còn nợ là 361.500.000đ tiền gốc, còn tiền lãi tính đến nay chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do vợ chồng chị bận công việc nên xin ủy quyền lại cho ông Đỗ Văn B sẽ đại diện thay mặt để trình bày, làm đơn đề nghị toàn bộ các thủ tục tố tụng liên quan khác theo quy định. Đối với chi phí tố tụng khác (chi phí giám định chữ ký, chữ viết) chị tự chịu trách nhiệm thanh toán, chi trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án: Ông là chồng của bà Trần Thị P, sinh năm 1971 hiện ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông và bà P kết hôn, có đăng ký theo quy định của pháp luật tại UBND xã T rồi về chung sống từ khoảng năm 1987 đến nay, vợ chồng ông đã có với nhau 03 con chung. Giữa vợ chồng ông và vợ chồng anh Đỗ Văn K và chị Hoàng Thị T có quan hệ họ hàng (chị T là cháu ruột ông). Vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng chị T, anh K hay không và vay với số tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Đối với các giấy vay phía chị T, anh K cung cấp cho Tòa án mà ông đã được xem lại, ông xác định trong đó không có chữ ký của ông, còn việc có chữ ký của vợ ông hay không thì ông không rõ. Ông đi làm bảo vệ tại bệnh viện Đ từ năm 2019 đến nay và chỉ thỉnh thoảng ông mới về nhà khi gia đình có công việc. Nay chị T khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết buộc vợ chồng ông phải trả các khoản nợ đã vay, tổng còn nợ là 361.500.000đ, quan điểm của ông là ông xác định ông không biết các khoản nợ, còn nếu có khoản nợ trên mà vợ ông vay thì ông sẽ cố gắng để cùng với vợ ông trong công việc trả nợ, còn hiện tại điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên chỉ xin được thu xếp trả nợ dần. Đồng thời ông X xác định quan điểm không có gì khác, do bận công việc nên ông có đơn đề nghị Tòa án không báo ông đến làm việc, hòa giải nữa mà giải quyết, xét xử vắng mặt ông theo quan điểm ông đã trình bày.
Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là bà Trần Thị P trong quá trình giải quyết vụ án cho biết: - Tại Biên bản làm việc ngày 27/12/2023, ngày 17/5/2024 và ngày 20/6/2024, bà P xác định: Bà xác định bà có ký vào giấy nợ tiền của chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Văn K nhưng do không có chữ ký của ông X chồng bà nên chị T, anh K không đưa tiền cho bà. Do đó bà không nợ tiền chị T, anh K và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, đồng thời bà không nhận quyết định, thông báo và không ký vào bất cứ biên bản nào của Tòa án. Đồng thời không đến làm việc theo giấy báo của Tòa án.
Theo tài liệu Tòa án xác minh, thu thập: - Kết luận giám định số: 136/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Người vay” trên: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2015, vay của Đỗ Văn K Trà số tiền 50.000.000 đồng; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/7/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 61.500.000 đồng; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 100.000.000 đồng; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 150.000.000 đồng so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỜI” trên GIẤY MỜI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra. - Nội dung xác minh tại chính quyền địa phương xã T và đại diện cơ sở thôn D cho biết: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966 và bà Trần Thị P, sinh năm 1971 đều thường trú tại thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông P và bà X kết hôn rồi về chung sống tại địa phương xã T, đồng thời có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T vào ngày 30/01/1991 (số thứ tự 12). Vợ chồng bà P, ông X kinh doanh tại thôn D, xã T nhưng do công việc kinh doanh gặp khó khăn nên mặc dù cửa hàng còn giảng biển hiệu nhưng ít giao dịch, hàng ngày bà P vẫn thường xuyên xuống cửa hàng, tối lại về nhà ở thôn C, xã T. Đối với ông X do gia đình gặp khó khăn về kinh tế nên đi làm bảo vệ trên thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, khi có công việc gia đình, họ hàng ông vẫn có mặt đầy đủ.
Tại phiên tòa hôm nay: - Nguyên đơn chị Hoàng Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn K và đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Văn B đều vắng mặt. Ông B đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đồng bị đơn bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến, quan điểm, tài liệu nào khác chuyển Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký: Thẩm phán TAND huyện Khoái Châu đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp; Xác định đúng, đủ tư cách tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã tiến hành tố tụng và cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp đúng theo quy định của BLTTDS; HDXX, thư ký không thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng Dân sự, vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS.
+ Về áp dụng pháp luật: Điều 25, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. + Về đường lối giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T. - Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho chị T, anh K tổng số tiền gốc còn nợ là 361.500.000đ. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, chị T, anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Đối với tiền lãi của số tiền nợ gốc: Không đặt ra xem xét, giải quyết. - Chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn không yêu cầu đồng bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Đồng bị đơn phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng đại diện theo quyền là ông B và đồng bị đơn là bà P, ông X đều vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của chị T, anh K là ông B và đồng bị đơn là ông X đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, còn bà P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nên không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải liên đới trả số tiền nợ gốc do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Đồng bị đơn thường trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nội dung, đối tượng khởi kiện là “Hợp đồng vay tài sản”, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[4]. Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ đối với số tiền nợ gốc đã vay, còn tiền lãi không yêu cầu. Vì vậy, căn cứ theo khoản 2 Điều 155, Điều 429 của Bộ luật Dân sự, xác định “Không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu bảo vệ quyền số hữu…”; Ngoài ra theo Công văn số: 443/VKSTC-V9 ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, xác định: “Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện”.
[5]. Nội dung và trách nhiệm trả nợ: Quan điểm của chị T, anh K yêu cầu vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông, bà tổng số tiền gốc còn nợ là 361.500.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay anh, chị không yêu cầu trả nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ do: - Nguyên đơn cung cấp được bản chính: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2015, vay của Đỗ Văn K Trà số tiền 50.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/7/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 61.500.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 100.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2016, vay của Hoàng Thị T số tiền 150.000.000đ. Phù hợp với yêu cầu khởi kiện với tổng số tiền gốc nợ là 361.500.000đ. - Các giấy biên nhận vay tiền đều được in theo mẫu chung từ trước, phù hợp mục đích huy động vốn, kinh doanh của gia đình. - Kết luận giám định số: 136/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Người vay” trên: Giấy biên nhận vay tiền so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỚI” trên GIẤY MỚI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra. - Đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X xác định: Vợ chồng ông kết hôn, có đăng ký theo quy định của pháp luật tại UBND xã T rồi về chung sống từ khoảng năm 1987 đến nay. Giữa vợ chồng ông và vợ chồng anh Đỗ Văn K, chị Hoàng Thị T có quan hệ họ hàng (chị T là cháu ruột ông). Vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng chị T, anh K hay không và vay với số tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Đối với các giấy vay phía chị T, anh K cung cấp cho Tòa án mà ông đã được xem lại, ông xác định trong đó không có chữ ký của ông, còn việc có chữ ký của vợ ông hay không thì ông không rõ. Nay chị T khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết buộc vợ chồng ông phải trả các khoản nợ đã vay, tổng là 361.500.000đ. Quan điểm của ông là ông không biết các khoản nợ trên, còn nếu có khoản nợ trên mà vợ ông vay thì ông sẽ cố gắng để cùng với vợ ông trong công việc trả nợ, còn hiện tại điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên chỉ xin được thu xếp trả nợ dần. - Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và cơ sở thôn cho thấy về quan hệ hôn nhân thống nhất, phù hợp với lời khai của đương sự. Do đó, việc đồng bị đơn là bà Trần Thị P xác định bà có ký giấy vay tiền trên nhưng vì không có chữ ký của ông X nên chị T, anh K không đưa tiền cho bà nên bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ chấp nhận. Cần xác định bà P có vay, tiếp nhận số tiền gốc như trên và mục đích vay để sử dụng vào việc kinh doanh, đầu tư chung của gia đình. Căn cứ Điều 25, Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xác định trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ là trách nhiệm liên đới của bà P, ông X. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc là có căn cứ, được chấp nhận nên cần buộc bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho chị T, anh K số tiền nợ gốc là 361.500.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay chị T, anh K không yêu cầu trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, chị T, anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. - Chi phí tố tụng khác: Chị T không yêu cầu đồng bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144, Điều 147 của BLTTDS; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử lý về tạm ứng án phí, án phí như sau: - Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. - Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án được xác định như sau: 361.500.000đ x 5% = 18.075.000đ.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng: Điều 25, Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử: - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T. - Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho chị T, anh K tổng số tiền gốc còn nợ là 361.500.000đ (Ba trăm sáu mươi một triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, chị T, anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: - Hoàn trả lại cho chị Hoàng Thị T số tiền 9.040.000đ (Chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số: 0008442 ngày 03/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu. - Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 18.075.000đ (Mười tám triệu không trăm bảy mươi năm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho đương sự (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 15/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 15/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Khoái Châu - Hưng Yên |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 03/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về