TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
BẢN ÁN 13/2024/DS-ST NGÀY 03/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 03/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2023/TLSTDS ngày 21/7/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2024/QĐXX-DSST ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1966.
2. Đồng bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Q, sinh năm 1970.
4. Đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị Q là: Ông Trần Đình T, sinh năm 1966; (Theo Văn bản ủy quyền, chứng thực số: 29, quyển số: 01/2024/SCT/CK, ĐC ngày 09/5/2024 tại UBND xã T). Tất cả các đương sự đều thường trú tại: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
5. Người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: 5.1. Ông Phan Minh T1 - Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa T, 173 X, Cầu G, Hà Nội. 5.2. Ông Hoàng Trọng P1, sinh năm 1963 - Thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa T, 173 X, Cầu G, Hà Nội - Đại diện/Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Ông T và ông P1 có mặt; Bà P, ông X, bà Q và ông Thanh vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai, quan điểm của nguyên đơn (ông Trần Đình T) trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ông là chồng của bà Đào Thị Q, sinh năm 1970 hiện ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Giữa vợ chồng ông và vợ chồng bà Trần Thị P, ông Nguyễn Văn X có quan hệ họ hàng trong gia đình, đồng thời ở gần nhà nhau và cùng xã T. Do vợ chồng bà P, ông X cần vốn kinh doanh vàng bạc nên có vay tiền của vợ chồng ông, cụ thể: Ngày 30/8/2013 vay số tiền 484.000.000đ. Sau khi vay đến ngày 30/5/2014 bà P đã trả số tiền 70.000.000đ và đến ngày 30/6/2014 trả thêm được hai lần với tổng số tiền là 14.000.000đ. Tổng đã trả được 84.000.000đ và còn nợ lại số tiền gốc đến nay là 400.000.000đ. Khi cho vay cả hai vợ chồng ông có mặt ở đó, đồng thời bà Q là người trực tiếp đưa tiền cho bà P tại nhà ông. Đối với ông X không tham gia trực tiếp do vợ chồng ông được biết mọi công việc kinh doanh của gia đình đều do bà P quyết định. Sau khi cho vay vợ chồng ông cũng đã nhiều lần nói chuyện, thông báo cho ông X và phía ông X nhất trí theo bà P vì bà P nắm kinh tế gia đình. Khi vay có lập giấy vay, đồng thời bà P trực tiếp ký vào giấy vay (giấy biên nhận vay tiền). Khi thực hiện việc cho vay giữa các bên không cầm cố, thế chấp tài sản, đồ vật gì và không liên quan đến ai khác. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất bên ngoài, không ghi vào giấy vay và tính theo mức chung mà bà P vay của mọi người từng thời điểm và phù hợp với quy định của pháp luật nhưng ông xác định tính đến nay vợ chồng ông chưa nhận được từ vợ chồng bà P, ông X đồng tiền lãi nào. Mặc dù vợ chồng ông đã nhiều lần đốc thúc nhưng vợ chồng bà P, ông X chỉ khất nợ không trả. Nay ông làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà P, ông X phải liên đới trả ngay cho vợ chồng ông số tiền gốc còn nợ lại là 400.000.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông không yêu cầu trả và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với chi phí tố tụng khác (chi phí giám định chữ ký, chữ viết) ông tự chịu trách nhiệm thanh toán, chi trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án: Ông là chồng của bà Trần Thị P, sinh năm 1971 hiện ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông và bà P kết hôn, có đăng ký theo quy định của pháp luật tại UBND xã T rồi về chung sống từ khoảng năm 1987 đến nay và đã có với nhau 03 con chung. Giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Trần Đình T, bà Đào Thị Q có quan hệ họ hàng. Vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng ông T, bà Q hay không và vay với tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Nay ông T khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết buộc vợ chồng ông phải trả các khoản nợ đã vay, cụ thể theo phía ông T cung cấp cho Tòa án: Ngày 30/8/2013 vay số tiền 484.000.000đ. Sau khi vay đến ngày 30/5/2014 bà P đã trả số tiền 70.000.000đ và đến ngày 30/6/2014 trả thêm được hai lần với tổng số tiền là 14.000.000đ. Tổng đã trả được 84.000.000đ và còn nợ lại số tiền gốc đến nay là 400.000.000đ. Đối với các giấy vay phía ông T cung cấp cho Tòa án mà ông đã được xem lại trên ông xác định trong đó không có chữ ký của ông, còn việc có chữ ký của bà P hay không thì ông không rõ. Tuy nhiên vào khoảng năm 2017-2018 anh em ông Trần Đình M, ông Trần Đình T2 có kéo xuống gia đình ông để đòi nợ, gây sức ép đối với vợ chồng ông, đồng thời đập phá tài sản nhà ông, sự việc trên đã được thông báo đến công an xã T giải quyết. Sau đó được động viên của cơ quan Công an huyện K nên hai bên đã dừng lại không đề nghị giải quyết tiếp cho đến nay (Cụ thể: Phía gia đình ông T2 không yêu cầu giải quyết về công nợ nữa, còn gia đình ông không yêu cầu giải quyết về việc hủy hoại tài sản của gia đình ông nữa). Mọi sự việc làm việc tại địa phương, với cơ quan Công an bà P là người trực tiếp tham gia, làm việc, còn bản thân ông không tham gia trực tiếp nên ông chỉ được bà P nói, kể lại. Nay phía ông T2 lại tiếp tục làm đơn khởi kiện đến Tòa án đòi nợ đối với vợ chồng ông, đề nghị vợ chồng ông phải trả tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. Quan điểm của ông xác định đối với khoản nợ trên của ông T2 ông không biết, còn nếu có khoản nợ trên mà bà P vay thì ông sẽ cố gắng để cùng với bà P trong công việc trả nợ, còn hiện tại điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên chỉ xin được thu xếp trả nợ dần. Ngoài ra ông cho biết ông đi làm bảo vệ tại bệnh viện Đ từ năm 2019 đến nay và chỉ thỉnh thoảng mới về nhà khi gia đình có công việc. Đồng thời ông xác định quan điểm không có gì khác, do bận công việc nên ông có đơn đề nghị Tòa án không báo ông đến làm việc, hòa giải nữa mà giải quyết, xét xử vắng mặt ông theo quan điểm ông đã trình bày.
Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là bà Trần Thị P trong quá trình giải quyết vụ án cho biết: Tại Biên bản làm việc ngày 27/12/2023, ngày 17/5/2024 và ngày 20/6/2024 bà P xác định: Ông Trần Đình T cho bà vay lãi nặng với mức 1.000đ/1.000.000đ/01 ngày và đến đánh đập bà, đập phá tài sản của nhà bà, bản thân bà đã có đơn gửi tới Công an huyện K và Công an huyện K cũng đã hòa giải, trả lời bà nhưng bà không nhất trí. Tài liệu về việc ông T cho bà vay lãi nặng thể hiện trong giấy. Việc bà vay của ông T số tiền 500.000.000đ với mức lãi suất là 1.000đ/01ngày/1.000.000đ, bà là người trực tiếp viết vào giấy vay và giấy này ông T giữ, tương ứng với tiền lãi hàng tháng là 15.000.000đ/01tháng, lãi tháng nào bà trả tháng đó. Ngoài ra bà xác định không còn tài liệu, giấy tờ liên quan gì khác để giao nộp cho Tòa án. Do đó, bà không nhận quyết định, thông báo và không ký vào bất cứ biên bản nào của Tòa án. Đồng thời không đến làm việc theo giấy báo của Tòa án.
Lời khai, quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đào Thị Q trong quá trình giải quyết vụ án cho biết: Nội dung liên quan, quan điểm, yêu cầu khởi kiện thống nhất như nội dung ông T đã trình bày.
Theo tài liệu Tòa án xác minh, thu thập: - Kết luận giám định số: 132/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Bên vay” trên: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/8/2013, vay của Trần Đình T số tiền 484.000.000 đồng so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỚI” trên GIẤY MỚI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra. - Nội dung xác minh tại chính quyền địa phương xã T và đại diện cơ sở thôn D cho biết: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966 và bà Trần Thị P, sinh năm 1971 đều thường trú tại thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông P và bà X kết hôn rồi về chung sống tại địa phương xã T, đồng thời có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T vào ngày 30/01/1991 (số thứ tự 12). Vợ chồng bà P, ông X kinh doanh tại thôn D, xã T nhưng do công việc kinh doanh gặp khó khăn nên mặc dù cửa hàng còn giảng biển hiệu nhưng ít giao dịch, hàng ngày bà P vẫn thường xuyên xuống cửa hàng, tối lại về nhà ở thôn C, xã T. Đối với ông X do gia đình gặp khó khăn về kinh tế nên đi làm bảo vệ trên thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, khi có công việc gia đình, họ hàng ông vẫn có mặt đầy đủ.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Người đại diện/Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông Trần Đình T): Ông Hoàng Trọng P1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông T, bà Q tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. Đối với tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay không yêu cầu bên bị đơn phải trả và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Nguyên đơn, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Q) là ông T: Nhất trí quan điểm mà người đại diện/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông đã trình bày, đề nghị. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông không yêu cầu trả và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với tiền chi phí tố tụng (chi phí giám định chữ ký, chữ viết) ông, bà xin tự chịu trách nhiệm thanh toán, chi trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong bản án, quyết định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HDXX, Thư ký: Thẩm phán TAND huyện Khoái Châu đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp; Xác định đúng, đủ tư cách tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã tiến hành tố tụng và cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp đúng theo quy định của BLTTDS; HDXX, thư ký không thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định. + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là ông T, bị đơn là ông X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Q đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Bị đơn là bà P chưa chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng Dân sự, vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS). + Về áp dụng pháp luật: Điều 25, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. + Về đường lối giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình T. - Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông T, bà Q tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông T, bà Q có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.* - Đối với tiền lãi của số tiền nợ gốc: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn không yêu cầu đồng bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền là 10.000.000đ tạm ứng án phí mà ông T đã nộp. Đồng bị đơn bà P, ông X phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Q) là ông T và người đại diện/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông P1 có mặt; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông T1, cùng đồng bị đơn là bà P, ông X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Q vắng mặt. Tuy nhiên, bà Q đã có văn bản ủy quyền cho ông T, ông T đề nghị xét xử vắng mặt ông T1 và ông X đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, còn bà P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nên không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trần Đình T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải liên đới trả số tiền nợ gốc do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Đồng bị đơn thường trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nội dung, đối tượng khởi kiện là “Hợp đồng vay tài sản”, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[4]. Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ đối với số tiền nợ gốc đã vay, còn tiền lãi không yêu cầu. Vì vậy, căn cứ theo khoản 2 Điều 155, Điều 429 của Bộ luật Dân sự, xác định “Không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu...”; Ngoài ra theo Công văn số: 443/VKSTC-V9 ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, xác định: “Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện”.
[5]. Nội dung và trách nhiệm trả nợ: Quan điểm của ông T, bà Q yêu cầu vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông, bà tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông, bà không yêu cầu trả nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Căn cứ vào các tài liệu đương sự cung cấp, Tòa án xác minh, thu thập thể hiện: - Nguyên đơn cung cấp được bản chính: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/8/2013, vay của Trần Đình T số tiền 484.000.000đ. Đồng thời trong giấy thể hiện ngày 30/5/2014 và ngày 30/6 đã rút tổng 84.000.000đ. Như vậy phù hợp với yêu cầu khởi kiện với tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. - Kết luận giám định số: 132/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Bên vay” trên: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/8/2013, vay của Trần Đình T số tiền 484.000.000 đồng so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỜI” trên GIẤY MỜI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra. - Lời khai của đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X xác định: Vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng ông T, bà Q hay không và vay với tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Đối với giấy vay phía ông T cung cấp cho Tòa án mà ông đã được xem lại ông xác định trong đó không có chữ ký của ông, còn việc có chữ ký của bà P hay không thì ông không rõ. Tuy nhiên vào khoảng năm 2017-2018 anh em ông Trần Đình M, ông Trần Đình T2 có kéo xuống gia đình ông để đòi nợ, gây sức ép đối với vợ chồng ông, đồng thời đập phá tài sản nhà ông, sự việc trên đã được thông báo đến công an xã T giải quyết. Sau đó được động viên của cơ quan Công an huyện K nên hai bên đã dừng lại không đề nghị giải quyết tiếp cho đến nay (Cụ thể: Phía gia đình ông T2 không yêu cầu giải quyết về công nợ nữa, còn gia đình ông không yêu cầu giải quyết về việc hủy hoại tài sản của gia đình ông nữa). Mọi sự việc làm việc tại địa phương, với cơ quan Công an bà P là người trực tiếp tham gia, làm việc, còn bản thân ông không tham gia trực tiếp nên ông chỉ được nghe bà P kể lại. Nay phía ông T2 lại tiếp tục làm đơn khởi kiện đến Tòa án đề nghị vợ chồng ông phải trả tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ. Quan điểm của ông xác định đối với khoản nợ trên của ông T2 ông không biết, còn nếu có khoản nợ trên mà bà P vay thì ông sẽ cố gắng để cùng với bà P trong công việc trả nợ, còn hiện tại điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên chỉ xin được thu xếp trả nợ dần. - Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và cơ sở thôn cho thấy về quan hệ hôn nhân thống nhất, phù hợp với lời khai của đương sự. - Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là bà Trần Thị P xác định: Việc bà vay của ông Trần Đình T số tiền 500.000.000đ, bà là người trực tiếp viết vào giấy và giấy này ông T giữ. Tuy nhiên, ông T cho vay với mức lãi nặng, cụ thể mức lãi suất là 1.000đ/01ngày/1.000.000đ, tương ứng với tiền lãi hàng tháng là 15.000.000đ/01tháng, lãi tháng nào bà trả tháng đó. Ông T còn đến đánh đập bà, đập phá tài sản của nhà bà, bản thân bà đã có đơn gửi tới Công an huyện K và Công an huyện K cũng đã hòa giải, trả lời bà nhưng bà không nhất trí. Do đó bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông T. Tuy bà P có quan điểm như trên nhưng bà không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh gửi tới Tòa án để xem xét giải quyết như lời bà trình bày, do đó không có căn cứ để xem xét. Từ những căn cứ nêu trên cần xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, xác định bà P có vay, tiếp nhận số tiền gốc như trên của ông T, bà Q và mục đích vay để sử dụng vào việc kinh doanh, đầu tư chung của gia đình. Căn cứ Điều 25, Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xác định trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ là trách nhiệm liên đới của bà P, ông X. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc là có căn cứ, được chấp nhận nên cần buộc bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông T, bà Q số tiền nợ gốc là 400.000.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông T, bà Q không yêu cầu trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông T, bà Q có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. - Chi phí tố tụng khác: Ông T không yêu cầu đồng bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144, Điều 147 của BLTTDS; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử lý về tạm ứng án phí, án phí như sau: - Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông T) được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền là 10.000.000đ tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu số: 0008428 ngày 21/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu. - Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án được xác định như sau: 400.000.000đ x 5% = 20.000.000đ.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng: Điều 25, Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử: - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình T. - Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông T, bà Q tổng số tiền gốc còn nợ là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng). Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông T, bà Q có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: - Hoàn trả lại cho ông Trần Đình T số tiền 10.000.000đ (Bằng chữ: Mười triệu đồng) tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu số: 0008428 ngày 21/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu. - Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho đương sự, người đại diện/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho đương sự, người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 13/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 13/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Khoái Châu - Hưng Yên |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 03/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về