Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 11/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 11/2024/DS-ST NGÀY 03/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 03/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2023/TLST-DS ngày 21/7/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2024/QĐXX-DSST ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:

1. Đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950 và bà Đinh Thị M, sinh năm 1952.

Đều thường trú tại: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

2. Đồng bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966.

Đều thường trú tại: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

3. Đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn (bà Đinh Thị M) là: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950; Trú tại: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Theo Văn bản ủy quyền, chứng thực số: 28, quyển số: 01/2024/SCT/CK,ĐC ngày 09/5/2024 tại UBND xã T).

4. Người đại diện/Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Đ):

4.1. Ông Phan Minh T - Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa T, 173 X, Cầu G, Hà Nội.

4.2. Ông Hoàng Trọng P1, sinh năm 1963 - Thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa T, 173 X, cầu G, Hà Nội - Đại diện/Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đ và ông Hoàng Trọng P1 có mặt; Bà Đinh Thị M, bà Trần Thị P, ông Nguyễn Văn X, ông Phan Minh Thanh vắng m.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai, quan điểm của đồng nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M) trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Giữa vợ chồng ông, bà và vợ chồng bà Trần Thị P, ông Nguyễn Văn X có mối quan hệ họ hàng xa, đồng thời đều ở cùng xã T. Do vợ chồng bà P cần vốn để kinh doanh, buôn bán nên có nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông, trong đó có những lần vay trực tiếp của ông, có những lần vay trực tiếp của bà M và cả những lần vay của con gái ông là chị H. Cụ thể các lần vay như sau:

- Những lần vay trực tiếp của bà M là: Ngày 30/7/2015 vay số tiền 100.000.000đ; Ngày 30/4/2016 vay số tiền là 120.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền là 132.000.000đ. Tổng là 352.000.000đ.

- Những lần vay trực tiếp của ông là: Ngày 30/11/2015 vay làm hai lần (500.000.000đ và 33.000.000đ) tổng là 533.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền 110.000.000đ; Ngày 30/12/2016 vay số tiền 21.870.000đ. Tổng là 664.870.000đ. Trong đó, sau khi đưa tiền cho bà P vay vào 30/11/2015 do cần tiền để chi tiêu, sử dụng vào việc gia đình nên ông đã rút 02 lần với tổng số tiền là 23.000.000đ (được ghi nhận tại giấy vay số tiền 33.000.000đ).

- Khi vay giữa các bên không cầm cố, thế chấp tài sản, đồ vật gì và không liên quan đến ai khác. Việc vay trên do bà P trực tiếp đứng ra vay và ký vào giấy biên nhận vay tiền, đồng thời là người trực tiếp nhận tiền. Khi vay bà P xác định dùng để đầu tư, kinh doanh trong gia đình và thực tế mọi công việc kinh doanh trong gia đình do bà P trực tiếp quản lý, thực hiện nên bà P bảo có trách nhiệm về tự bàn bạc, nói chuyện trong gia đình với ông X, không cần ông X phải có mặt, do đó bà P đồng thời ký giấy thay cả phần tên ông X. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận, bà P tự nguyện ghi nhận trong giấy vay là 1,7%/tháng, thời hạn vay không kỳ hạn, khi cần lấy lại tiền cho vay hai bên sẽ trao đổi, báo trước để bà P thu xếp. Tuy nhiên, sau khi vay bà P, ông X không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi. Khi ông, bà đến nhắc nhở thì bà P, ông X chỉ khất, bảo do điều kiện làm ăn của gia đình hiện gặp khó khăn chưa trả được nên ông, bà để tạm gác lại để vợ chồng bà P, ông X thu xếp. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng bà P, ông X không có động thái gì trong việc trả nợ, đồng thời ông, bà cũng nắm được thông tin vợ chồng bà P, ông X hiện nợ rất nhiều người trong địa bàn xã T, cũng như các xã xung quanh.

Nay ông, bà khởi kiện đề nghị vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông, bà tổng số tiền gốc còn nợ lại là 993.870.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông, bà không yêu cầu trả và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với chi phí tố tụng khác (chi phí giám định chữ ký, chữ viết) ông, bà tự chịu trách nhiệm thanh toán, chi trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án:

Ông là chồng của bà Trần Thị P, sinh năm 1971 hiện ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông và bà P kết hôn, có đăng ký theo quy định của pháp luật tại UBND xã T rồi về chung sống từ khoảng năm 1987 đến nay và vợ chồng ông, bà đã có với nhau 03 con chung. Giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị M có quan hệ họ hàng xa và ở cùng xã T. Vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm bắt kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng ông Đ, bà M hay không và vay với số tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, có lần ông Đ sau khi đưa tiền cho bà P vay thì có đến thông báo lại cho ông. Đồng thời có thời điểm cách đây vài năm vợ chồng ông Đ, bà M có đến nhắc nhở vợ chồng ông về việc trả nợ tiền vay, khi đó ông không biết số tiền vay bao nhiêu, đồng thời do điều kiện làm ăn của gia đình gặp nhiều khó khăn nên ông chỉ biết bảo vợ chồng ông Đ, bà M thông cảm để cho gia đình thu xếp trả nợ dần. Nay vợ chồng ông Đ, bà M khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết buộc vợ chồng ông phải trả các khoản nợ đã vay, cụ thể theo vợ chồng ông Đ, bà M cung cấp cho Tòa án:

- Các lần vay trực tiếp bà M là vào ngày 30/7/2015 vay số tiền 100.000.000đ; Ngày 30/4/2016 vay số tiền là 120.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền là 132.000.000đ.

- Những lần vay trực tiếp của ông Đ là: Ngày 30/11/2015 vay làm hai lần với tổng số tiền 533.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền 110.000.000đ; Ngày 30/12/2016 vay số tiền 21.870.000đ.

Như vậy tổng số tiền theo vợ chồng ông Đ, bà M xác định vợ chồng ông vay nợ là 1.016.870.000đ tiền gốc. Đối với các giấy vay phía vợ chồng ông Đ, bà M cung cấp cho Tòa án mà ông đã được xem (cụ thể các ngày như nêu trên) ông xác định không có chữ ký của ông, còn việc có chữ ký của bà P hay không thì ông không nắm rồ. Ngoài ra ông X còn cho biết bản thân ông đi làm bảo vệ tại Bệnh viện Đ2 từ năm 2019 đến nay và chỉ thỉnh thoảng ông mới về nhà khi gia đình có việc.

Nay quan điểm của ông đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ của vợ chồng ông Đ, bà M: Ông xác định nếu có khoản nợ trên thì ông sẽ cố gắng để cùng với bà P trong công việc trả nợ, còn hiện nay điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên ông chỉ xin được thu xếp trả nợ dần. Ngoài ra ông xác định quan điểm không có gì khác, do bận công việc nên ông có đơn đề nghị Tòa án không báo ông đến làm việc, hòa giải nữa mà giải quyết, xét xử vắng mặt ông theo quan điểm ông đã trình bày.

Lời khai, quan điểm của đồng bị đơn là bà Trần Thị P trong quá trình giải quyết vụ án cho biết:

Tại Biên bản lấy lời khai và Biên bản làm việc ngày 27/12/2023; Biên bản làm việc ngày 17/5/2024, ngày 20/6/2024 bà P xác định: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966 ở thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hung Yên. Giữa vợ chồng bà và vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị M không có quan hệ họ hàng gì, chỉ là người cùng xã T. Những giấy vay của bà Đinh Thị M vào ngày 30/7/2015 vay số tiền 100.000.000đ; Ngày 30/4/2016 vay số tiền là 120.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền là 132.000.000đ và những giấy vay của ông Nguyễn Văn Đ ngày 30/11/2015 vay làm hai lần với tổng số tiền 533.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền 110.000.000đ; Ngày 30/12/2016 vay số tiền 21.870.000đ. Bà xác định bà có ký các giấy trên nhung vì ông X chồng bà không phải là người ký vào các giấy trên nên ông Đ, bà M không đưa tiền cho bà. Do đó bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà M, đồng thời bà không nhận quyết định, thông báo và không ký vào bất cứ biên bản nào của Tòa án. Đồng thời không đến làm việc theo giấy báo của Tòa án.

Theo tài liệu Tòa án xác minh, thu thập:

- Kết luận giám định số: 131/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Người vay” trên: Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/7/2016, vay Đinh Thị M số tiền 132.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/4/2016, vay Đinh Thị M số tiền 120.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/7/2015, vay Đinh Thị M số tiền 100.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/12/2016, vay Nguyễn Văn Đ số tiền 21.870.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/7/2016, vay Nguyễn Văn Đ số tiền 110.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/11/2015, vay Nguyễn Văn Đ số tiền 33.000.000đ; Giấy biên nhận vay tiền, ghi ngày 30/11/2015, vay Nguyễn Văn Đ số tiền 500.000.000đ so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị p dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỜI” trên GIÂY MỜI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra.

- Nội dung xác minh tại chính quyền địa phương xã T và đại diện cơ sở thôn D cho biết: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1966 và bà Trần Thị P, sinh năm 1971 đều thường trú tại thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Ông P và bà X kết hôn rồi về chung sống tại địa phương xã T, đồng thời có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T vào ngày 30/01/1991 (số thứ tự 12). Vợ chồng bà P, ông X kinh doanh tại thôn D, xã T nhưng do công việc kinh doanh gặp khó khăn nên mặc dù cửa hàng còn giăng biển hiệu nhung ít giao dịch, hàng ngày bà P vẫn thường xuyên xuống cửa hàng, tối lại về nhà ở thôn C, xã T. Đối với ông X do gia đình gặp khó khăn về kinh tế nên đi làm bảo vệ trên thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, khi có công việc gia đình, họ hàng ông vẫn có mặt đầy đủ.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Người đại diện/Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Đ): Ông Hoàng Trọng P1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho cho ông Đ, bà M tổng số tiền gốc còn nợ là 993.870.000đ, đối với tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay không yêu cầu bên bị đơn phải trả và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Ông Đ nhất trí quan điểm mà người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông đã trình bầy và đề nghị thêm là ông không yêu cầu đối với số tiền chi phí tố tụng (chi phí giám định chữ ký, chữ viết), ông xin tự chịu trách nhiệm thanh toán, chi trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong bản án, quyết định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thấm phán, HĐXX, Thư ký: Thẩm phán TAND huyện Khoái Châu đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp; Xác định đúng, đủ tư cách tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã tiến hành tố tụng và cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp đúng theo quy định của BTTTDS; HĐXX, thư ký không thuộc trường hợp phải thay đổi, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đồng nguyên đơn là ông Đ, bà M đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng Dân sự, vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS.

+ Về áp dụng pháp luật: Điều 25, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tung dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về đường lối giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M. Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho cho ông Đ, bà M tổng số tiền gốc còn nợ là 993.870.000đ.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông Đ, bà M có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Đối với tiền lãi của số tiền nợ gốc: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Chi phí tố tụng khác: Đồng nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Đồng nguyên đơn (ông Đ, bà M) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền là 21.260.000đ. Đồng bị đơn (bà P, ông X) phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đồng nguyên đơn, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà M) là ông Đ và người đại diện/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông P1 có mặt; ĐI nguyên đơn là bà M và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông T, cùng đồng bị đơn là bà P, ông X vắng mặt. Tuy nhiên, bà M đã có văn bản ủy quyền cho ông Đ, ông Đ đề nghị vẫn xét xử khi ông T vắng mặt, ông X đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, còn bà P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nên không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị p và ông Nguyễn Văn X phải liên đới trả số tiền nợ gốc do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Đồng bị đơn thường trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nội dung, đối tượng khởi kiện là “Hợp đồng vay tài sản”, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[4]. Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ đối với số tiền nợ gốc đã vay, còn tiền lãi không yêu cầu. Vì vậy, căn cứ theo khoản 2 Điều 155, Điều 429 của Bộ luật Dân sự, xác định “Không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu...”; Ngoài ra theo Công văn số: 443/VKSTC-V9 ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, xác định: “Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện”.

[5]. Nội dung và trách nhiệm trả nợ: Quan điểm của đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M yêu cầu vợ chồng bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho ông, bà tổng số tiền gốc còn nợ là 993.870.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay ông, bà không yêu cầu trả nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Xét yêu cầu của đồng nguyên đơn là có căn cứ do:

- Đồng nguyên đơn cung cấp được bản chính các giấy vay nhận vay tiền, cụ thể tại giấy vay của bà M là: Ngày 30/7/2015 vay số tiền 100.000.000đ; Ngày 30/4/2016 vay số tiền là 120.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền là 132.000.000đ; Tổng là 352.000.000đ. Giấy vay của ông Đ là: Ngày 30/11/2015 vay làm hai lần với tổng số tiền 533.000.000đ; Ngày 30/7/2016 vay số tiền 110.000.000đ; Ngày 30/12/2016 vay số tiền 21.870.000đ; Tổng là 664.870.000đ. Trong đó, sau khi đưa tiền cho bà P vay vào 30/11/2015 do cần tiền để chi tiêu, sử dụng vào việc gia đình nên ông Đ đã rút 02 lần với tổng số tiền là 23.000.000đ. Phù hợp với yêu cầu khởi kiện với tổng số tiền gốc nợ lại là 993.870.000đ.

- Các giấy biên nhận vay tiền đều được in theo mẫu chung từ trước, phù hợp mục đích huy động vốn, kinh doanh của gia đình.

- Kết luận giám định số: 131/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Người vay” trên: Các giấy biên nhận vay tiền nêu trên so với chữ ký, chữ viết của Trần Thị P dưới mục “NGƯỜI NHẬN GIẤY MỜI” trên GIẤY MỜI của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, lập ngày 26/01/2024 là do cùng một người ký, viết ra.

- Đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X xác định vợ chồng ông mở cửa hàng kinh doanh vàng bạc từ khoảng năm 2009. Trong đó mọi quán xuyến trong công việc kinh doanh, nắm bắt kinh tế gia đình đều do bà P quản lý, quyết định. Việc bà P huy động vốn của những ai do bà P tự quyết định nên việc bà P có vay tiền của vợ chồng ông Đ, bà M hay không và vay với số tiền bao nhiêu bản thân ông không rõ, ông không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, có lần ông Đ sau khi đưa tiền cho bà P vay thì có đến thông báo lại cho ông. Đồng thời có thời điểm cách đây vài năm vợ chồng ông Đ, bà M có đến nhắc nhở vợ chồng ông về việc trả nợ tiền vay, khi đó ông không biết số tiền vay bao nhiêu, đồng thời do điều kiện làm ăn của gia đình gặp nhiều khó khăn nên ông chỉ biết bảo vợ chồng ông Đ, bà M thông cảm để cho gia đình thu xếp trả nợ dần. Nay quan điểm của ông đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ trên của vợ chồng ông Đ, bà M: Ông xác định nếu có khoản nợ trên thì ông sẽ cố gắng để cùng với bà P vợ ông trong công việc trả nợ, còn hiện nay điều kiện làm ăn, kinh tế của gia đình ông hiện khó khăn nên ông chỉ xin được thu xếp trả nợ dần.

- Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và cơ sở thôn cho thấy về quan hệ hôn nhân thống nhất, phù hợp với lời khai của đương sự.

Do đó, việc đồng bị đơn là bà Trần Thị P xác định bà có ký các giấy vay trên nhung vì ông X chồng bà không phải là người ký vào các giấy trên nên ông Đ, bà M không đưa tiền cho bà nên bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ chấp nhận, cần xác định bà P có vay nợ số tiền gốc nhu trên và mục đích vay để sử dụng vào việc kinh doanh, đầu từ chung của gia đình. Căn cứ Điều 25, Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xác định trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ là trách nhiệm liên đới của bà P, ông X. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc là có căn cứ, được chấp nhận nên cần buộc bà P, ông X phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông Đ, bà M số tiền nợ gốc là 993.870.000đ. Riêng tiền lãi của số tiền gốc trên đến nay đồng nguyên đơn không yêu cầu trả, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông Đ, bà M có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

- Chi phí tố tụng khác: Đồng nguyên đơn không yêu cầu đồng bị đơn phải thanh toán trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết, không yêu cầu xem xét, giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và khoản 3 Điều 144, Điều 147 của BLTTDS để xử lý về tạm ứng án phí, án phí như sau:

- Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn (ông Đ, bà M) được chấp nhận nên đồng nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền là 21.260.000đ tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp (ông Đ nộp thay cả bà M) theo biên lai thu số: 0008425 ngày 21/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu.

- Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án được xác định như sau: 36.000.000đ + (993.870.000đ - 800.000.000đ) x 3% = 41.816.100đ.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Điều luật áp dụng: Điều 25, Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M.

- Buộc bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm liên đới trả ngay cho cho ông Đ, bà M tổng số tiền gốc còn nợ là 993.870.000đ (Chín trăm chín mươi ba triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông Đ, bà M có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án mà bên bị thi hành án không thi hành khoản tiền trên, thì phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí:

- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị M số tiền 21.260.000đ (Hai mươi mốt triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp (ông Đ nộp thay cả bà M) theo biên lai thu số: 0008425 ngày 21/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu.

- Bà Trần Thị P và ông Nguyễn Văn X phải có trách nhiệm hên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 41.816.100đ (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm mười sáu nghìn, một trăm đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho đồng nguyên đơn, người đại diện/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho đồng bị đơn, người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 11/2024/DS-ST

Số hiệu:11/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Khoái Châu - Hưng Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về