Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 105/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 105/2024/DS-PT NGÀY 01/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 171/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Khưu Hồng U, sinh năm 1965 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 3, thị t, huyện U, tỉnh C ..

- Bị đơn: Bà Lâm Bích C, sinh năm 1981 (có mặt).

Ông Lâm Văn L, sinh năm 1975 (có mặt).

Cùng cư trú tại: Khóm 4, thị t, huyện U, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Khưu Hồng U trình bày: Ngày 16 tháng 10 năm 2020 âm lịch, bà Lâm Bích C vay bà số tiền 10.000.000 đồng; Ngày 06 tháng 11 năm 2020 âm lịch, bà C vay số tiền 20.000.000 đồng và ngày 06 tháng 12 năm 2020 âm lịch, bà C vay tiếp số tiền 10.000.000 đồng. Cả 03 lần vay trên thì bà C làm biên nhận nợ cho bà, lãi suất thoả thuận 5%/tháng. Nhưng bà C chỉ đóng lãi cho bà 03 lần, ngày 18/01/2023 đóng lãi 1.000.000 đồng; ngày 06/4/2023 đóng lãi 1.000.000 đồng và ngày 16/8/2023 đóng lãi 500.000 đồng. Tổng cộng 2.500.000 đồng.

Do bà cần sử dụng và yêu cầu bà C trả tiền, nhưng bà C không thực hiện. Nay bà yêu cầu bà C, ông L trả số tiền vốn 40.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 16/3/2021 âm lịch đến ngày 16/9/2023 âm lịch là 27 tháng, lãi suất 1,66%/tháng với số tiền 17.928.000 đồng, nhưng đối trừ số tiền 2.500.000 đồng là 15.428.000 đồng (40.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 27 tháng = 17.928.000 đồng). Tổng cộng tiền vốn và tiền lãi là 55.428.000 đồng, do đây là nợ trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu ông L, bà C cùng thanh toán.

Bị đơn bà Lâm Bích C trình bày: Bà thừa nhận có ký vào biên nhận nợ bà U số tiền 40.000.000 đồng, nhưng bà đã đóng lãi cho bà U số tiền 25.000.000 đồng, còn số tiền 2.500.000 đồng là tiền vốn sau khi hai bên đối chiếu nợ thì bà U không tính lãi và nói với bà trả dần trừ vào tiền vốn. Nay bà U yêu cầu bà trả vốn 40.000.000 đồng bà đồng ý, nhưng không đồng ý trả tiền lãi.

Đối với việc bà U yêu cầu bà cùng ông L thanh toán bà không thống nhất vì đây là nợ riêng của bà.

Bị đơn ông Lâm Văn L trình bày: Việc bà C vay tiền của bà U ông không biết, do vợ ông vay tiền cho em vợ điều trị bệnh. Đồng thời, ông xác định vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay, hiện nay thì vợ chồng ông vẫn còn sống chung nhà nhưng mọi sinh hoạt trong gia đình đều riêng. Nay bà U yêu cầu ông cùng trả số nợ, ông không đồng ý.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 171/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Hồng U. Buộc bà Lâm Bích C và ông Lâm Văn L liên đới trả cho bà Khưu Hồng U số tiền 55.428.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 19/12/2023, bị đơn ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm ông L không thống nhất chịu trách nhiệm liên đới trả tiền vay và xem xét việc tính lãi suất. Tại phiên tòa phúc thẩm ông, bà giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 171/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C về việc ông L không thống nhất chịu trách nhiệm liên đới trả tiền vay và xem xét việc tính lãi, thấy rằng:

Giao dịch vay tiền 40.000.000 đồng giữa nguyên đơn với bị đơn thể hiện tại các biên nhận, đồng thời đều được đôi bên thừa nhận việc vay là thực tế có xảy ra, nay tiếp tục thống nhất khoản vốn còn phải thanh toán là 40.000.000 đồng. Do các bên đương sự thừa nhận nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là đúng luật định.

Về việc ông L khước từ liên đới trách nhiệm nhận thấy: Những chứng cứ thể hiện tại hồ sơ tuy ông L không ký vào biên nhận vay, nhưng ông và bà C là vợ chồng và khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, tuy ông cho rằng ông và bà C đã ly thân những vẫn sống chung nhà hiện chưa ly hôn theo qui định và không đủ chứng cứ để chứng minh; tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất hiện chưa có thủ tục ly hôn theo luật định. Từ đó cho thấy việc khước từ trách nhiệm thanh toán của ông L là không đủ căn cứ.

Về lãi suất bà U yêu cầu tính lãi từ ngày 16/3/2021 âm lịch đến ngày 16/9/2023 âm lịch là 27 tháng, lãi suất 1,66%/tháng với số tiền 17.928.000 đồng, nhưng đối trừ số tiền 2.500.000 đồng là 15.428.000 đồng (40.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 27 tháng = 17.928.000 đồng). Xét thấy, lãi suất nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi 1,66%/tháng là phù hợp theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, nên cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.

Từ nhận định trên yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

[2] Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn L, bà Lâm Bích C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 171/2023/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Hồng U đối với bà Lâm Bích C, ông Lâm Văn L. Buộc bà Lâm Bích C và ông Lâm Văn L liên đới trả cho bà Khưu Hồng U số tiền 55.428.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Khưu Hồng U không phải chịu. Ngày 05/10/2023 bà Khưu Hồng U đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 1.386.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011470 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, được nhận lại.

Bà Lâm Bích C và ông Lâm Văn L phải chịu án phí số tiền là 2.771.400 đồng (chưa nộp).

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Lâm Bích C, ông Lâm Văn L phải nộp 300.000 đồng. Ngày 19/12/2023, bà C đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006118, ông L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006119 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

318
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 105/2024/DS-PT

Số hiệu:105/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về