TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
BẢN ÁN 09/2024/DS-PT NGÀY 23/02/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 23 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 04/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2024/QĐ-PT ngày 25/01/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; địa chỉ: Căn hộ A, Tòa B, Chung cư R, đường T, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Chung cư H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ồng Nguyễn Văn H - Luật sư thuộc Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh T; Địa chỉ: số B, đường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh V, sinh năm 1974; địa chỉ: số nhà A, đường N, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị V: Ông Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1954; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Lô A, bãi đỗ xe tĩnh, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị V: Bà Lưu Thị Quỳnh T và bà Lê Thị Minh N - Luật sư thuộc Công ty L3 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Từ năm 2015 đến năm 2021 chị M cho chị V vay tiền nhiều lần, với tổng số tiền vay là 20.305.000.000 đồng, chị V đã trả 16.374.500.000 đồng số tiền còn nợ lại là 3.930.500.000 đồng. Mục đích chị V vay tiền để làm gì thì chị M không biết, trong văn bản hai bên không thỏa thuận thời hạn trả, không thỏa thuận lãi suất nhưng thỏa thuận bằng miệng lãi suất từng thời điểm khác nhau là 4,5%, 4%, 3,5% và thấp nhất là 2%/tháng vì thời gian sau này công việc làm ăn của chị V không được thuận lợi.
Ngày 17/4/2020, chị V đã tự chốt nợ, tổng số tiền chị V còn nợ chị M là 3.920.000.000 đồng và gửi qua Zalo cho chị M, số tiền chị V chốt nợ khớp với số tiền chị V còn nợ chị M chưa gạch sổ. Sau khi chốt nợ, chị V vẫn trả tiền lãi cho chị M đến ngày 10/8/2021 là 2.095.516.000 đồng. Nay chị M yêu cầu chị V thanh toán cho chị M toàn bộ số tiền nợ gốc là 3.920.000.000 đồng và lãi suất của số tiền nợ gốc 3.920.000.000 đồng theo mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày 11/8/2021 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, ngày 07/8/2023 là 1.561.556.000 đồng (đã làm tròn). Tổng cả nợ gốc và tiền lãi là 5.481.556.000 đồng.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Khánh V trình bày: Từ năm 2015 đến năm 2021 chị V có vay của chị M số tiền 3.930.500.000 đồng, gồm: Ngày 12/5/2015 vay 190.000. 000 đồng; ngày 01/9/2015 vay 580.000.000 đồng; ngày 09/5/2015 vay 260.000. 000 đồng; ngày 11/10/2015 vay 600.000.000 đồng; ngày 21/11/2015 vay 1.400.000. 000 đồng; ngày 02/12/2016 vay 300.000.000 đồng; ngày 18/12/2018 vay 330.000.000 đồng; ngày 26/12/2018 vay 480.000.000 đồng, đã trả 220.000. 000 đồng còn lại 260.000.000 đồng. Lãi suất hai bên có thỏa thuận bằng miệng từng thời điểm khác nhau là 4,5%, 4%, 3,5% và thấp nhất là 2%/tháng. số tiền đã trả chưa gạch sổ là 3.920.000.000 đồng, chị V đã trả chị M được khoảng 11.000. 000.000 đồng theo như chị M đã chốt nợ qua tin nhắn Zalo trên điện thoại với chị V. Theo bảng kê chị V đã trả chị M 9.883.795.000 đồng trên số tiền 3.920.000. 000 đồng, số tiền còn lại chị V trả chị M nhưng không nhớ chính xác, yêu cầu chị M cung cấp sổ cho vay cho Tòa án.
Số tiền chị M yêu cầu chị V trả theo đơn khởi kiện, chị V không đồng ý vì chị V đã trả cho chị M qua chuyển khoản và trả tiền mặt nhung chị M chưa gạch sổ do chị M ở Hà Nội, chị V ở Thái Bình, do tin tưởng nhau, chị V trả tiền cho chị M mà không yêu cầu chị M ký xác nhận. Đến nay chị V đã trả thừa tiền cho chị M và chị M đã xác nhận số tiền chị V trả khoảng 11.000.000.000 đồng.
Về chứng cứ: Chị V lập bảng kê, đã nộp cho Tòa án. Những tài liệu để chứng minh về số tiền 11.000.000.000 đồng chị V trả cho chị M, hiện chị M đang giữ.
Chị V cung cấp chứng cứ đã trả tiền lãi cho chị M gồm:
* Ngày 19/7/2023, chị V xuất trình chứng cứ đã trả tiền lãi cho chị M gồm: 07 tờ chứng từ giao dịch chuyển khoản từ tài khoản số 3401666637X chủ tài khoản Nguyễn Thị Khánh V tại Ngân hàng A đến số tài khoản 1004685X chủ tài khoản Nguyễn Thị M tại Ngân hàng s (Sl); 42 tờ giấy báo nợ chuyển khoản từ tài khoản số 47110000597X chủ tài khoản Nguyễn Thị Khánh V tại Ngân hàng TMCP ĐI đến số tài khoản 1004685X chủ tài khoản Nguyễn Thị M tại Ngân hàng s (Sl); 01 tờ giấy báo nợ chuyển khoản từ tài khoản số 47110000597X chủ tài khoản Nguyễn Thị Khánh V tại Ngân hàng TMCP ĐI đến số tài khoản 103867470X chủ tài khoản Phạm Thành L tại Ngân hàng V1.
* Ngày 04/8/2023, chị V xuất trình chứng cứ đã trả tiền lãi cho chị M gồm: 08 Giấy báo nợ của tài khoản Vũ Thị LI các ngày 09/02/2021, 17/3/2020, 16/4/2020, 10/12/2020, 25/01/2021, 10/3/2021, 09/4/2021, 11/6/2021 tại Ngân hàng TMCP ĐI - Chi nhánh T2 - Phòng G; 02 Giấy báo nợ của tài khoản Phí Thị Thu HI các ngày 11/01/2021, 25/01/2021 tại Ngân hàng TMCP ĐI - Chi nhánh T2, Phòng G; 01 Giấy nộp tiền kiêm phiếu thu của người nộp tiền Nguyễn Thị TI nộp vào tài khoản của chị Nguyễn Thị M tại Ngân hàng TMCP s Chi nhánh T2 (01 tờ, bản sao); 19 tờ ảnh chụp tin nhắn Zalo giữa tài khoản Zalo “Nguyễn V”, số điện thoại 0945554X và tài khoản “May HTram”, số điện thoại đăng ký 0944441X (bản phô tô).
Quan điểm của chị V về việc giải quyết vụ án: Chị V có vay tiền của chị M như chị M trình bày và chị V đã trả thừa tiền cho chị M, nay chị V không chấp nhận yêu cầu chị M đòi chị V số tiền nợ gốc 3.920.000.000 đồng và tiền lãi suất.
Bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị M. Buộc chị Nguyễn Thị Khánh V phải có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là 2.857.645.643 đồng, số tiền nợ lãi là 1.138.360.756 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 3.996.006.000 đồng (Ba tỷ chín trăm chín mươi sáu triệu không trăm linh sáu nghìn đồng) (đã làm tròn).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/8/2023, chị Nguyễn Thị Khánh V kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu chị V trả nợ số tiền 3.920.000.000 đồng và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc cho vay với lãi suất cao trái quy định của pháp luật của bà Nguyễn Thị M.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Khánh V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Năm 2019, chị V vay chị M 4.190.000.000 đồng, đến năm 2020 vay thêm 300.000.000 đồng nhưng tháng 4/2020 đã trả 300.000.000 đồng. Ngày 17/4/2020, chị V đã tự viết bảng kê đề đối chiếu lại số tiền vay giữa chị V và chị M chứ không phải là biên bản chốt nợ, bởi khi chị V gửi bảng kê này cho chị M thì chị M không có động thái trả lời gì về việc này. Chị V đã có bản thống kê về việc trả chị M số tiền 9.883.795.000 đồng và chị M đã xác nhận qua tin nhắn Zalo việc chị V đã trả chị M 11.000.000.000 đồng. Ngoài ra, chị M cũng xác nhận trong tin nhắn Zalo về việc trong 3-4 năm chị V đều trả cho chị M 167.000.000 đồng/1 tháng x 48 tháng = 8.016.000.000 đồng. Theo ý kiến trình bày của chị M cho rằng chị V có vay tiền nhiều lần với tổng số tiền lên đến 20.305.000.0000 đồng và chị V đã trả 16.374.500.000 đồng là không đúng sự thật và không có cơ sở vì chị M không có bất cứ chứng từ hay giấy tờ gì đề chứng minh việc này. Bản chất của việc nêu lên số tiền vay nhằm che đậy số tiền vay thực tế là 3.930.500.000 đồng (ba tỷ chín trăm ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng) mà phải trả số tiền lãi là 9.883.795.000 đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chua làm rõ về nội dung này và chưa làm rõ hành vi cho vay tiền với lãi suất cao trái quy định của pháp luật của chị M. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử không xem xét các tài liệu chứng cứ mà bị đơn và chị M đã cung cấp, trong đó có các Vi bằng do Thừa phát lại lập và nộp cho Tòa án để làm rõ bản chất của vụ việc. Đồng thời, bỏ qua số tiền mà chị V đã trả lãi cho chị M trong suốt thời gian dài từ tháng 5/2015 đến tháng 4/2020 làm sai lệch bản chất vụ việc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp của chị V.
Tại phiên toà chị M trình bày: Chị M xác định chị và chị V đã có việc vay mượn tiền từ năm 2012 đến năm 2021 với tổng số tiền là 20.665.000.000 đồng. Chị V đã trả hơn 16 tỷ đồng. Ngày 17/4/2020, sau khi chị gửi qua Zalo cho chị V các khoản vay mà chị V chưa trả cho chị thì chị V đã lập biên bản đối chiếu các khoản còn lại chưa trả là 3.930.500.000 đồng và chụp gửi biên bản này cho chị qua Z. Những khoản vay chị M chưa xóa trong sổ do chị V chưa trả trùng khớp với những khoản vay do chị V đã lập bảng kê gửi cho chị. Chị M xác định chị V đã trả lãi qua chuyển khoản là 2.095.516.000 đồng. Chị V trình bày đã trả chị 9.883.795.000 đồng là không có căn cứ. Không có việc chị M xác nhận với chị V về việc trong 3-4 năm chị V đã trả lãi cho chị là 167.000.000 đồng/tháng mà chỉ là tin nhắn đơn phương của chị V.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày tranh luận: Việc vay mượn trả nợ giữa bà V, bà M đều dựa vào mối quan hệ thân quen, tin tưởng nhau nên không xác định được hai bên cho vay mượn số tiền thực tế là bao nhiêu. Chị M cho rằng đã cho chị V vay tiền từ năm 2012 đến nay với số tiền hơn hai mươi tỷ nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Mặt khác, trong Vi bằng do chị M xác lập ngày 20/6/2023, chị M xác định “Kể từ ngày chốt số tiền nợ này, chị V vẫn trả tiền lãi cho tôi tổng 104 lần bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt với tổng số tiền 4.017.876.000 đồng...”. Đồng thời, việc Toà án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào các tin nhắn trên Zalo để xác định việc vay mượn nợ đề làm tài liệu, chứng cứ chứng minh các khoản vay nợ và việc Toà án không xem xét Bảng liệt kê của chị V trả nợ 9.883.795.000 đồng cho chị M mà chỉ chấp nhận Bảng liệt kê của chị M về việc chị V trả nợ là không khách quan. Việc Toà án cấp sơ thẩm buộc chị V phải trả lãi suất của khoản vay từ tháng 8/2021 là không đúng vì thời điểm này xác định là các khoản vay không có thoả thuận về lãi suất nên không thể tính lãi suất 20% cho chị V là không đúng pháp luật. Do chưa đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để thu thập chứng cứ và giải quyết lại vụ án.
Chị V và người đại diện theo ủy quyền của chị V hoàn toàn nhất trí với quan điểm tranh luận của Luật sư, không tranh luận bổ sung gì.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: Việc nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ, bởi bản thân bà V là người đã xác nhận vay của chị M 3.930.500.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận Bảng liệt kê của chị M về các khoản chị V trả chị M là 2.095.516.000 đồng nhiều hơn số tiền mà chị V liệt kê đã trả chị M là 2.018.716.000 đồng là bảo vệ cho bị đơn chứ không bảo vệ nguyên đơn. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh về các khoản vay trả nợ của chị M và chị V đã được thể hiện trong sổ sách ghi nợ cho chị V tự ký vào các khoản vay và mỗi khoản chị V trả thì chị V đều gạch sổ. Số tiền còn lại chị V chưa trả chị M, chưa được gạch sổ phù hợp với số tiền chị V liệt kê các khoản nợ gửi cho chị M qua Zalo. Do vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định, vấn đề lãi suất hai bên đều khai nhận việc thỏa thuận lãi suất bằng miệng nên Toà án cấp sơ thẩm xác định lãi suất chị V phải trả là đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chị M nhất trí với quan điểm tranh luận của người đại diện theo ủy quyền, không tranh luận bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Khánh V, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 07/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của chị Nguyễn Thị Khánh V làm trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo thấy:
[2.1] Tại phiên tòa, các đương sự đều xác nhận chị V còn nợ chị M 3.920.000.000 đồng, số tiền nợ này trùng khớp với số tiền chị V còn nợ chị M ghi trong sổ mà chưa được gạch (thể hiện là đã trả). Kể từ thời điểm chị V tự chốt nợ với chị M ngày 17/4/2020, chị V đã trả lãi cho chị M nhiều lần bằng hình thức chuyển khoản, theo Bảng kê chị M trình bày số tiền chị V đã trả là 2.095.516.000 đồng, cao hơn số tiền mà chị V lập bảng kê đã trả cho chị M là 2.018.716.000 đồng nên Toà án xác định khoản tiền chị V đã trả theo bảng kê chị M cung cấp và thừa nhận là đúng pháp luật. Tại phiên tòa, chị V khẳng định từ năm 2019 đến nay do chị M chuyển lên Hà Nội sinh sống nên chị V trả lãi cho chị M qua chuyển khoản, còn trước đó chị V đều trả tiền mặt cho chị M, nhưng do bạn bè tin tưởng nhau nên trả xong không gạch sổ, không yêu cầu chị M viết giấy xác nhận trả nợ và chị V cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án là “Bảng kê chi tiết tiền đã trả trên cơ sở 3.930.500.000 VND từ tháng 5/2015-7/2021” do chị V tự kê khai đã trả cho chị M 9.883.795.000 đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là lời khai một phía của chị V, chị M không thừa nhận Bảng kê đã trả 9.883.795.000 đồng của chị V và chị V không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh. Đối với các tin nhắn Zalo giữa chị M và chị V về việc xác định có những thời điểm 3-4 năm, hàng tháng chị V đều trả lãi cho chị M 167.000.000 đồng, nhưng tin nhắn này cũng không được chị M thừa nhận nên không phải là căn cứ để chứng minh việc chị V đã trả lãi 9.883.795.000 đồng cho chị M.
[2.2] Về yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét mức lãi suất: Tại phiên tòa, chị M và chị V đều xác định hai bên thỏa thuận miệng với nhau về mức lãi suất, lãi suất không cố định mà theo từng thời kỳ, mức thấp nhất là 2%/tháng, cao nhất là 4,5%/tháng. Xét mức lãi suất thoả thuận của chị V và chị M vẫn cao hơn lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/1 năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp khác có liên quan quy định khác... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định trong số tiền đã trả có một khoản tiền là số tiền lãi vượt quá lãi suất giới hạn nên không có không có hiệu lực là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Bản án sơ thẩm đã đối trừ khoản tiền trả lãi vượt quá của chị V cho chị M không có hiệu lực đối trừ trả vào nợ gốc chị V phải trả cho chị M, đồng thời tính lãi trên nợ gốc mới từ ngày 11/8/2021 là ngày tiếp theo của ngày cuối cùng chị V đã trả lãi cho chị M theo lãi suất 20%/năm đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp. Trên cơ sở đó Tòa án tính án phí trên cơ sở số tiền của các bên yêu cầu không được chấp nhận là đúng quy định của pháp luật.
[2.3] Từ các phân tích nêu trên, xét thấy không phát sinh tình tiết, sự kiện hay tài liệu, chứng cứ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[3] về án phí: Do kháng cáo của chị Nguyễn Thị Khánh V không được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị Khánh V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Khánh V, giữ nguyên quyết định của Bản án số 14/2023/DS-ST ngày 07/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
1.1. Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1.2. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M, buộc chị Nguyễn Thị Khánh V phải có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị M số tiền nợ gốc là 2.857.645.643 đồng, số tiền nợ lãi là 1.138.360.756 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 3.996.006.399 đồng (làm tròn thành 3.996.006.000 đồng) (Ba tỷ chín trăm chín mươi sáu triệu không trăm linh sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
1.3. Về án phí:
1.3.1. Chị Nguyễn Thị M phải chịu 56.566.000 đồng (đã làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 55.200.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001290 ngày 09/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí cho chị M. Chị M còn phải nộp tiếp 1.366.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
1.2.3. Chị Nguyễn Thị Khánh V phải chịu 111.920.000 đồng (đã làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/ƯBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Khánh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm chị V đã nộp theo Biên lai nộp tiền số 000X3 ngày 07/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
3. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 23/2/2024.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 09/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 09/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thái Bình |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 23/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về