Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 08/2025/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 08/2025/DS-ST NGÀY 16/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 376/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1;

Địa chỉ trụ sở: số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M; Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc K – Chuyên viên xử lý nợ.

Bị đơn: Bà Hứa Thị Phước V, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

(Đại diện Ngân hàng xin vắng mặt; bà V vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/8/2024 và các lời khai tiếp theo trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/4/2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (gọi tắt là Ngân hàng) với bà Hứa Thị Phước V có ký kết hợp đồng thẻ số 0048/18/TC/0008-01054 để vay số tiền 20.000.000đ, mục đích mua sắm…,với hình thức tín chấp, lãi suất trong hạn là 1,8%/tháng, lãi suất quá hạn 2,75%/tháng. Ngày 26/4/2018 Ngân hàng đã giải ngân số tiền qua thẻ cho bà V, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 26/4/2021. Do bà V vi phạm nghĩa vụ trả nợ trả nợ thẻ đến nay Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà V trả số tiền vay tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 75.034.856đ (trong đó gốc là 19.464.123đ và tiền lãi là 19.356.528đ, phí chậm trả còn lại 26.301.906đ, phí vượt hạn mức còn lại là 9.912.299đ) và các khoản lãi, chi phí phát sinh theo hợp đồng thẻ đã ký kết kể từ ngày 22/11/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thẻ cho Ngân hàng.

Bị đơn bà Hứa Thị Phước V đã được Tòa án cấp, tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng bà V không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa là chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Bà V đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng để buộc bà V trả nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Hứa Thị Phước V, bị đơn có địa chỉ tại thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Hứa Thị Phước V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:

Tại hợp đồng thẻ tín dụng số 0048/18/TC/0008-01054, ngày 17/4/2018, bà Hứa Thị Phước V có vay của Ngân hàng số tiền 20.000.000đ, hình thức vay tín chấp, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay: mua sắm; lãi suất trong hạn là 1,8%/tháng, lãi suất quá hạn 2,75%/tháng. Do bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển qua nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà V trả số tiền vay tạm tính đến ngày 21/11/2024 là 75.034.856đ (trong đó gốc là 19.464.123đ và tiền lãi là 19.356.528đ, phí chậm trả còn lại 26.301.906đ, phí vượt hạn mức còn lại là 9.912.299đ) và các khoản lãi, chi phí phát sinh theo hợp đồng thẻ đã ký kết kể từ ngày 22/11/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thẻ cho Ngân hàng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bà V nhưng bà V không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Từ đó có căn cứ xác định việc bà Hứa Thị Phước V có vay và hiện còn nợ Ngân hàng là có xảy ra trên thực tế, bà V đã vi phạm nghĩa vụ của người vay là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Từ đó yêu cầu của Ngân hàng buộc bà Hứa Thị Phước V trả nợ vay là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà V trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 75.034.856đ (trong đó gốc là 19.464.123đ và tiền lãi là 19.356.528đ, phí chậm trả còn lại 26.301.906đ, phí vượt hạn mức còn lại là 9.912.299đ).

Kể từ ngày 22/11/2024, bà V còn có nghĩa vụ chịu các khoản lãi, chi phí phát sinh theo hợp đồng thẻ đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thẻ cho Ngân hàng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ngân hàng không phải nộp án phí, bà Hứa Thị Phước V có nghĩa vụ nộp số tiền án phí đối với yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1:

Buộc bà Hứa Thị Phước V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền vay tổng cộng là 75.034.856đ (trong đó gốc là 19.464.123đ và tiền lãi là 19.356.528đ, phí chậm trả còn lại 26.301.906đ, phí vượt hạn mức còn lại là 9.912.299đ).

Kể từ ngày 22/11/2024, bà Hứa Thị Phước V còn có nghĩa vụ chịu các khoản lãi, chi phí phát sinh theo hợp đồng thẻ đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thẻ cho Ngân hàng.

2. Về án phí dân sư sơ thẩm: Ngân hàng không phải nộp án phí, hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí 1.664.000đ tại lai thu số 0009304 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Buộc bà Hứa Thị Phước V có nghĩa vụ nộp số tiền án phí là 3.752.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 08/2025/DS-ST

Số hiệu:08/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Giá Rai - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về