Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 06/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 06/2024/DS-ST NGÀY 07/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 7 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 124/2023/TLST-DS ngày 7 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/2/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Vân T, sinh năm 1986. (có mặt) Địa chỉ: Lô H, phố M, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim G, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Giữa chị Lê Thị Vân T với chị Nguyễn Thị Kim G có mối quan hệ quen biết với nhau do chị T chơi thân với chị gái của chị G. Do có sự quen biết như vậy nên chị T đã cho chị G vay tiền.

Theo phía nguyên đơn là chị Lê Thị Vân T trình bày: Ngày 28/11/2022 chị G có đến nhà chị hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng, bản thân chị vì là chỗ quen biết chị em nên chị có đồng ý cho chị G vay số tiền như chị G hỏi vay. Khi vay chị G có tự tay viết giấy mượn tiền của chị với thỏa thuận ngày 16/12/2022 chị G trả chị số tiền 50.000.000 đồng, và ngày 16/01/2023 trả chị nốt số tiền 50.000.000 đồng còn lại. Khi vay hai bên không thỏa thuận phải trả tiền lãi suất. Chị G đã nhận số tiền vay nhưng đến hạn không trả. Sau đó chị đã nhiều lần đòi chị G phải trả số tiền trên nhưng chị G không trả. Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị G phải trả lại số tiền đã vay, ngoài ra, không yêu cầu tính lãi. Chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, phía chị T cung cấp một giấy mượn tiền ghi ngày 28/11/2022 có chữ ký của chị G.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim G: Sau khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án cũng đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với chị G. Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ kiện đến chị G, tiến hành thông báo triệu tập chị G hai lần đến Tòa án để làm việc nhưng chị G vẫn vắng mặt. Tiến hành xác minh tại địa phương chị G cư trú thì xác định được chị G có quê quán tại thôn T, xã N và mặc dù đi làm nhưng chị G vẫn ở cùng với bố mẹ đẻ ở thôn T, xã N, chị G không thuộc trường hợp không có tin tức hay biệt tích. Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập làm việc, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác đến chị G thông qua ông Nguyễn Kim H là bố đẻ của chị G, nhưng chị G vẫn cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Do vậy không có lời khai của chị G trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa chị Lê Thị Vân T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như trong đơn kiện đã nêu. Phía chị Nguyễn Thị Kim G vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm cần kiến nghị khắc phục. Phía bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G là có căn cứ.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của phía nguyên đơn, cũng như chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp có căn cứ để xác định phía chị G có vay của chị T số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 28/11/2022 nhưng đến thời điểm hiện nay vẫn chưa trả số tiền này, mặc dù thời hạn trả tiền theo thỏa thuận giữa hai bên đã hết. Lời khai của chị T phù hợp với chứng cứ là giấy mượn tiền nên có căn cứ để xác định chị G vay tiền của chị T, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 468, 467 của Bộ luật dân sự, xử buộc chị G phải có nghĩa vụ trả chị T số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng. Về án phí; Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên chị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Vân T, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Kim G phải trả lại số tiền vay được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị G có nơi cư trú tại thị xã T nên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý và áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án là có căn cứ.

[2]. Về nội dung: Căn cứ đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, căn cứ lời khai của nguyên đơn trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được.

Do có mối quan hệ quen biết nên giữa chị Lê Thị Vân T với chị Nguyễn Thị Kim G đã có thỏa thuận và thiết lập một hợp đồng vay tài sản. Cụ thể ngày 28/11/2022 chị T đã cho chị G vay số tiền 100.000.000 đồng, khi vay hai bên không thỏa thuận phải trả tiền lãi suất. Về thời hạn vay có thỏa thuận ngày 16/12/2022 chị G trả số tiền 50.000.000 đồng và ngày 16/01/2023 chị G trả nốt số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận phía chị G đã nhận số tiền vay và viết giấy mượn tiền nhưng đến hạn không trả được cho chị T số tiền đã vay. Phía chị G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay được quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự. Do vậy yêu cầu khởi kiện đòi lại số tiền cho vay của chị T cần được chấp nhận. Buộc chị G phải có nghĩa vụ trả lại chị T số tiền đã vay.

Về lãi suất: Chị T không yêu cầu tính lãi suất nên không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Yêu cầu trả số tiền nợ của chị T được chấp nhận nên phía chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả là 100.000.000 đồng. Chị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả chị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 468, 467 của Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Vân T, khởi kiện đòi chị Nguyễn Thị Kim G phải trả lại số tiền đã vay.

2. Buộc chị Nguyễn Thị Kim G phải trả chị Lê Thị Vân T số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng theo giấy mượn tiền lập ngày 28/11/2022.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành còn phải chịu lãi suất theo lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim G phải chịu 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị Lê Thị Vân T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị số tiền 2.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003496 ngày 7/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

4. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 06/2024/DS-ST

Số hiệu:06/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về