TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
BẢN ÁN 01/2024/DS-ST NGÀY 19/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXX-ST, ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-DS, ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H; Sinh ngày: 12/02/1963; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Hưu trí, (Có mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N; Sinh năm: 1961; Nơi cư trú: Số nhà D, đường Sông Cày, tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Hưu trí, (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Ngọc V; Sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Số nhà D, đường Sông Cày, tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt);
2. Anh Phạm Thế B; Sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Số nhà D, đường Sông Cày, tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt);
3. Chị Phạm Hoàng K; Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Số nhà D, đường Sông Cày, tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2024; bản tự khai ngày 11/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà Nguyễn Thị H) trình bày: Ngày 23/7/2013 bà Nguyễn Thị H cho vợ chồng ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N vay 03 (Ba) chỉ vàng 9999; Ngày 30/11/2014 bà Nguyễn Thị H cho vợ chồng ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N vay số tiền 127.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng. Hai bên không thỏa thuận thời hạn vay nhưng có thỏa thuận bằng miệng là khi nào cần lấy tiền thì báo trước khoảng 10 ngày. Giấy vay vàng và giấy vay tiền do ông Phạm Bá H1 viết và ký dưới chữ chồng, còn bà Nguyễn Thị N ký dưới chữ vợ. Ngày 11/10/2019 bà Nguyễn Thị N đã trả 01 (Một) chỉ vàng 9999, còn lại 02 (Hai) chỉ vàng 9999 và số tiền 127.000.000 đồng. Năm 2022 ông Phạm Bá H1 chết, bà Nguyễn Thị N tiếp tục trả lãi đến tháng 02/2023, sau đó nhiều lần bà Nguyễn Thị H đòi nợ nhưng bà Nguyễn Thị N không chịu trả gốc và lãi theo thỏa thuận. Hiện nay bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị N phải trả nợ số tiền gốc là 127.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng) và 02 (Hai) chỉ vàng 9999 tính thành tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) (01 chỉ trị giá 7.750.000 đồng), tổng cộng bà Nguyễn Thị N phải trả 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Đối với khoản tiền lãi từ tháng 3/2023 đến nay bà Nguyễn Thị H không yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải trả.
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập, các thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Ngọc V; anh Phạm Thế B; chị Phạm Hoàng K đều không đến làm việc theo giấy triệu tập, thông báo, quyết định đã được tống đạt mà không có lý do.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 05/7/2024, bà Nguyễn Thị N trình bày việc vay nợ bà Nguyễn Thị N thừa nhận có ký vào giấy vay ngày 23/7/2013 và giấy vay ngày 30/11/2014. Tuy nhiên bà N không sử dụng số tiền đó vào mục đích chung của gia đình. Hiện nay ông Phạm Bá H1 đã chết, việc trả nợ cho bà Nguyễn Thị H không liên quan đến bà N. Ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N có 03 con chung: Phạm Ngọc V; Phạm Thế B và Phạm Hoàng K, hiện nay bà Nguyễn Thị N không biết địa chỉ của các con. Ông Phạm Bá H1 chết không để lại tài sản gì. Mặc dù bà Nguyễn Thị N được nghe đọc biên bản, thừa nhận biên bản ghi đúng lời khai đã trình bày nhưng không chịu ký vào biên bản, nên các thành phần tham gia làm việc đã lập biên bản sự việc về nội dung bà Nguyễn Thị N không chịu ký biên bản.
Giấy vay tiền (do bà Nguyễn Thị H xuất trình), thể hiện: Tên tôi là Phạm Bá H1, có vợ là Nguyễn Thị N; hai vợ chồng hiện thường trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có vay của chị Nguyễn Thị H; Địa chỉ: Xã T, huyện T, Hà Tĩnh; Số tiền 127.000.000đ (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng chẵn). Số tiền này trả theo lãi suất 1% hàng tháng vào ngày 30 (Âm lịch) hàng tháng. Vậy vợ chồng tôi viết giấy này làm chứng về việc vay số tiền 127.000.000đ (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng) và 3 chỉ vàng (ba chỉ vàng) của gì H. Toàn bộ các giấy tờ liên quan đến vay mượn về trước không còn giá trị khi đã tổng hợp thành một giấy vay này). Thạch Hà, ngày 30/11/2014. Người vay chồng ký tên và ghi rõ họ tên Phạm Bá H1, vợ Nguyễn Thị N.
Giấy vay vàng (do bà Nguyễn Thị H xuất trình), thể hiện: Tên tôi là Phạm Bá H1, có vợ là Nguyễn Thị N; hiện ở: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có vay của gì H, Thạch V1; Số vàng 3 chỉ (99,99%). Vậy vợ chồng tôi viết giấy này làm chứng về việc vay số vàng trên. Thạch Hà, ngày 23/7/2013. Người vay ký tên và ghi rõ họ tên chồng Phạm Bá H1, vợ Nguyễn Thị N.
Tại Trích lục khai tử do UBND thị trấn T cung cấp ngày 16/7/2024, thể hiện: Ông Phạm Bá H1; Ngày, tháng, năm sinh: 28/11/1953; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch Việt Nam; Đã chết ngày 25/4/2022; nơi chết: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Liên quan đến ngôi nhà mà bà Nguyễn Thị N hiện đang ở, tại Biên bản xác minh ngày 16/7/2024, UBND thị trấn T cung cấp: Thửa đất tại địa chỉ số nhà D, đường S, tổ dân phố C, thị trấn T thuộc thửa số 07, tờ bản đồ 105, theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2012 được kê khai tên bà Nguyễn Thị H2, hiện nay đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 352105, ngày 26/01/2021 cho bà Phạm Ngọc V. Chính quyền địa phương không biết ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N có tài sản gì.
Tại Công văn số 325/VPĐK-CNTH ngày 27/8/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp hiện tại chưa thấy thông tin về hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N.
Tại Biên bản xác minh ngày 18/9/2024, chị Điện Thùy D, nhân viên tiêm V2 tại thị trấn T, cung cấp: Giá vàng 9999 từ ngày 15/9/2024 đến ngày 18/9/2024: Mua vào 7.740.000đ/01chỉ; bán ra 7.840.000đ/01 chỉ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đề nghị HĐXX áp dụng Điều 117, 351, 356, 357, 463, 464, 465, 466, 469 BLDS; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, buộc bà Nguyễn Thị N phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị H số tiền gốc 127.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 9999 tính thành tiền 15.500.000 đồng (02 chỉ vàng (loại vàng 99,99%) x 7.840.000 đồng/ 1 chỉ tương đương số tiền là: 15.680.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà H đề nghị tính giá vàng là 7.750.000 đồng/01 chỉ x 02 chỉ vàng (loại vàng 99,99%) tương đương với số tiền 15.500.000 đồng, xét thấy bà H đề nghị giá vàng không chênh lệch nhiều so với thị trường nên cần được chấp nhận), tổng cộng bà Nguyễn Thị N phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị H số tiền 142.500.000 đồng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị N thanh toán số tiền gốc 127.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng) và 02 (Hai) chỉ vàng 9999 tính thành tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) (01 chỉ trị giá 7.750.000 đồng), tổng cộng nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải trả số tiền 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó HĐXX xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn bà Nguyễn Thị N được thỏa thuận giao kết tại huyện T; bị đơn bà Nguyễn Thị N có nơi cư trú tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
[1.3] Về xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Ngọc V; anh Phạm Thế B; chị Phạm Hoàng K vẫn vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Do đó có đủ căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị N thanh toán số tiền gốc 127.000.000 đồng, và 02 (Hai) chỉ vàng 9999 tính thành tiền 15.500.000 đồng (01 chỉ trị giá 7.750.000 đồng), tương ứng với tổng số tiền yêu cầu bà Nguyễn Thị N phải trả 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Kèm theo đơn khởi kiện bà H xuất trình các giấy vay nợ để ngày 30/11/2014 với nội dung: “Tên tôi là Phạm Bá H1, có vợ là Nguyễn Thị N; hai vợ chồng hiện thường trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có vay của chị Nguyễn Thị H; Địa chỉ: Xã T, huyện T, Hà Tĩnh; Số tiền 127.000.000đ (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng chẵn). Số tiền này trả theo lãi suất 1% hàng tháng vào ngày 30 (Âm lịch) hàng tháng. Vậy vợ chồng tôi viết giấy này làm chứng về việc vay số tiền 127.000.000đ (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng) và 3 chỉ vàng (ba chỉ vàng) của gì H. Toàn bộ các giấy tờ liên quan đến vay mượn về trước không còn giá trị khi đã tổng hợp thành một giấy vay này. Thạch Hà, ngày 30/11/2014. Người vay chồng ký tên và ghi rõ họ tên Phạm Bá H1, vợ Nguyễn Thị N”. Quá trình làm việc bà N thừa nhận chữ ký của mình tại giấy vay nợ đề ngày 23/7/2013 và giấy vay nợ đề ngày 30/11/2014. Tuy nhiên, bà N cho rằng đó là khoản nợ giữa ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị H không liên quan đến bà; bà N cũng không sử dụng khoản tiền đó vào mục đích chung của gia đình nên bà không phải chịu trách nhiệm trả. Lời trình bày của bà N là không thuyết phục bởi bà N là người có năng lực chịu trách nhiệm dân sự nên khi đã ký vào giấy vay nợ bà phải chịu trách nhiệm của mình. Mặt khác, theo trình bày của bà H thì trước khi khởi kiện ra Tòa án bà đã nhiều lần đến nhà ông H1, bà N để yêu cầu hai người phải thanh toán khoản nợ trên và bản thân bà N lúc đó cũng không phản đối khoản nợ này, chính bà N cũng đã nhiều lần trả lãi cho bà H liên quan đến khoản nợ trên, không hiểu lý do gì đến nay bà N lại phủ nhận; chính năm 2019 bà N còn trực tiếp trả cho bà H 01 chỉ vàng nên số vàng còn nợ là 02 chỉ. Do đó, HĐXX có căn cứ xác định việc vợ chồng ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N có vay tiền của bà Nguyễn Thị H là đúng thực tế.
[2.2] Về trách nhiệm trả nợ:
Về pháp lý đây là khoản nợ chung của ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N đối với bà Nguyễn Thị H; nếu ông H1 còn sống thì ông H1 và bà N phải liên đới chịu trách nhiệm trả khoản nợ trên. Tuy nhiên, hiện nay ông Phạm Bá H1 đã chết (giấy chứng tử xác định ông H1 chết ngày 25/4/2022) nên căn cứ Điều 615 BLDS năm 2015, bà N và những người thừa kế của ông H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ trên tương ứng với giá trị tài sản mà những người này được nhận từ ông H1.
Về những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H1: Theo xác minh tại chính quyền địa phương thị trấn T thì ông H1 và bà N có 3 người con gồm chị Phạm Ngọc V; anh Phạm Thế B và chị Phạm Hoàng K. Quá trình làm việc với Tòa án bà N cho rằng những người con của ông H1 đều đã trưởng thành, lập gia đình riêng, địa chỉ cụ thể ở đâu bà N không biết; mặt khác ông H1 mất đi không để lại thừa kế tài sản gì cho các con nên các con không phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của ông H1 để lại.
Theo cung cấp của UBND thị trấn T và Chi nhánh Văn phòng Đ thì trước khi chết ông Phạm Bá H1 không để lại tài sản gì làm di sản thừa kế; Liên quan đến ngôi nhà mà bà Nguyễn Thị N hiện đang ở tại địa chỉ số nhà D, đường S, tổ dân phố C, thị trấn T thuộc thửa số 07, tờ bản đồ 105, theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2012 được kê khai tên bà Nguyễn Thị H2 (mẹ đẻ bà N), hiện nay đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 352105, ngày 26/01/2021 cho bà Phạm Ngọc V. Chính quyền địa phương không biết ông Phạm Bá H1 và bà Nguyễn Thị N có tài sản gì. Vì ông Phạm Bá H1 trước khi chết không để lại tài sản gì cho các con nên không có căn cứ để buộc các con ông H1 là chị Phạm Ngọc V; anh Phạm Thế B và chị Phạm Hoàng K phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại theo quy định tại khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự. Do đó, nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ trên thuộc về bà Nguyễn Thị N.
[2.3] Về số tiền gốc và lãi phải thanh toán:
- Về số tiền gốc phải thanh toán: Tổng số tiền bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H là 127.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 9999. Tòa án đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng N1 cung cấp tỷ giá vàng tại thời điểm xét xử để làm căn cứ giải quyết tuy nhiên Ngân hàng không cung cấp được. Do đó, cần xác định giá thị trường vàng tại địa phương để làm căn cứ quy đổi buộc bà N phải trả số tiền tương ứng với 2 chỉ vàng đã vay. Theo khảo sát giá thị trường vàng 9999 trên địa bàn thị trấn T từ ngày 15/9/2024 đến ngày 18/9/2024 cho thấy: giá vàng mua vào là 7.740.000đ/01chỉ; giá vàng bán ra 7.840.000đ/01chỉ. Tại phiên tòa bà H đề nghị Tòa án quy đổi 2 chỉ vàng ông H1, bà N đã vay thành tiền VNĐ là 15.500.000 đồng, tương ứng 01 chỉ trị giá 7.750.000 đồng, yêu cầu bà N phải thanh toán. Xét thấy yêu cầu trên là phù hợp nên HĐXX chấp nhận. Như vậy, tổng số tiền gốc buộc bà Nguyễn Thị N phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H là 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về tiền lãi: Căn cứ vào giấy vay nợ cũng như trình bày của bà H thì tại thời điểm vay nợ hai bên thoả thuận lãi suất là 1%/tháng. Tuy nhiên, đến nay do ông H1 đã mất, hoàn cảnh gia đình bà N khó khăn nên bà H chỉ yêu cầu thanh toán tiền gốc, không yêu cầu thanh toán tiền lãi. Xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 356; khoản 2 Điều 357; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469; khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 144; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc bà Nguyễn Thị N phải thanh toán khoản nợ đã vay là 127.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu đồng) và 02 (Hai) chỉ vàng 9999 tính thành tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng số tiền bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ phải trả cho bà Nguyễn Thị H là 142.500.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 7.125.000 đồng (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai số 0010099, ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 01/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 01/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 19/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về