TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 02/2025/DS-ST NGÀY 10/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 429/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 262/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Số 169 Phố L, phường H, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T , Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Công K , Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch huyện C;
Địa chỉ: Khóm 2, Thị xã X, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lâm Quốc P, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị S , sinh năm 1963 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm N, thị xã X huyện C ., tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng C (viết tắt NHCSXH) – Phòng giao dịch huyện C và ông Lâm Quốc P (bà Nguyễn Thị S là người thừa kế) có ký kết hợp đồng vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, ông P đã vay vốn tại Ngân hàng khoản vay ngày 28/12/2011 nợ gốc là: 40.000.000đ, lãi suất 0,65%/tháng, mục đích vay để trang trãi chi phí học tập cho con; thời hạn 84 tháng, thời hạn trả nợ ngày 05/5/2019. Từ ngày 05/3/2012 đến ngày 30/3/2024 Ngân hàng đã giải ngân cho ông P, bà S số tiền 31.000.000 đồng.
Đến hạn, ông Lâm Quốc P gặp khó khăn nên xin gia hạn nợ, Phòng giao dịch NHCSXH huyện C đã cho ông P gia hạn thêm 12 tháng để vượt qua khó khăn có thêm điều kiện thuận lợi trả nợ, thời hạn trả nợ cuối là ngày 05/5/2020.
Đến thời hạn nhưng ông P và bà S vẫn không trả số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên chuyển sang nợ quá hạn và thu hồi theo quy định. Tính đến ngày 31/7/2024 ông P, bà S vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 31.000.000đ, nợ lãi là 14.852.111 đồng.
Tài sản bảo đảm tiền vay: Cho vay không có bảo đảm tài sản (Cho vay ủy thác qua Hội Liên Hiệp phụ nữ).
Sau khi vay, qua nhiều lần NHCSXH nhắc nhở, đôn đốc trả nợ nhưng hộ gia đình ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S vẫn không trả nợ cho NHCSXH huyện C khi món vay đến hạn, mặc dù đã được chính quyền địa phương và Hội đoàn thể nhận ủy thác cho vay của thị trấn C và cán bộ Ngân hàng đôn đốc trả nợ nhiều lần.
Nay NHCSXH yêu cầu Tòa án huyện C: Buộc ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền Tính đến ngày 31/7/2024 ông P, bà S vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 45.852.111 đồng (trong đó: Vốn gốc: 31.000.000đ, nợ lãi: 14.852.111 đồng) và phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán dứt điểm nợ gốc.
* Đối với bị đơn là ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của Ngân hàng C.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phạm Công K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn là ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S thanh toán số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền 47.471.177 đồng (Trong đó nợ gốc là 31.000.000 đồng và nợ lãi là 16.471.177 đồng).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn với tổng số tiền 47.471.177 đồng (Trong đó nợ gốc là 31.000.000 đồng và nợ lãi là 16.471.177 đồng).
Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.\
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàngC khởi kiện ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi còn nợ nên đây là “Tranh chấp hợp đồng vay” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S cùng cư trú tại ấp khóm N, thị trấn C, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S là bị đơn trong vụ án đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông P, bà S vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông P, bà S là ph hợp với quy định của pháp luật tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay giữa Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện C và ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S được thiết lập trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù khoản vay đã đến hạn thanh toán nhưng bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ là có cơ sở chấp nhận.
Đối với Ngân hàng C yêu cầu ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S trả các khoản nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (10/01/2025) với tổng số tiền là 47.471.177 đồng (Trong đó nợ gốc là 31.000.000 đồng và nợ lãi là 16.471.177 đồng). Xét thấy, mặc dù bà Nguyễn Thị S không trực tiếp ký đơn vay vốn nhưng bà S là vợ của ông P, cũng là người thừa kế khi vay vốn nên nay nguyên đơn yêu cầu ông P, bà S trả nợ vốn, lãi là có cơ sở và phù hợp với các giấy đề nghị vay vốn đã ký kết, giấy nhận nợ nên có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, cần buộc ông P, bà S phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàngC tính đến ngày 10/01/2025, tổng cộng là 47.471.177 đồng (Trong đó nợ gốc là 31.000.000 đồng và nợ lãi là 16.471.177 đồng).
[3] Ngân hàng C yêu cầu cầu ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc. Căn cứ vào Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì cầu ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S có trách nhiệm trả lãi phát sinh theo hợp đồng giữa các bên đã ký kết kể từ ngày 10/01/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc là phù hợp.
[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S phải chịu theo quy định. Ông P, bà S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp án phí đối với phần án phí dân sự sơ thẩm phải chịu. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết ông P, bà S không có đơn đề nghị nộp cho Tòa án kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn nên phải nộp án phí theo quy định tại Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; 466; 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Lâm Quốc P, bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Ch nh sách x hội số tiền 47.471.177đ (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm bảy mươi mốt nghìn, một trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 31.000.000 đồng và nợ lãi là 16.471.177 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông P, bà S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí sơ thẩm: Ông Lâm Quốc P bà bà Nguyễn Thị S phải có nghĩa vụ nộp 2.373.558đ (Hai triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn, năm trăm năm mươi tám đồng) án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay số 02/2025/DS-ST
| Số hiệu: | 02/2025/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 10/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về