Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 996/2026/DS-ST ngày 18/05/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 996/2026/DS-ST NGÀY 18/05/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 18 tháng 5 năm 2026 tại Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 981/2026/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1496/2026/QĐST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1.

Địa chỉ: B N, phường C, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Duy T, sinh năm: 1993 hoặc ông Trương Văn T1, sinh năm 1983 (Giấy uỷ quyền số 7534/UQ-PVB ngày 02/10/2025).

Địa chỉ: Lầu B, B đường L, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn:

1.Ông Phạm Đắc H, sinh năm: 1974

2.Bà Võ Thị Kim B, sinh năm 1977

3.Ông Phạm Vũ Trúc L, sinh năm 2003

4.Ông Phạm Vũ H1, sinh năm 1997

Địa chỉ: B ấp A, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Bà Lê Thị N, sinh năm: 1993

2.Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1994

3.Trẻ Huỳnh Kim S, sinh năm: 2022

4.Ông Trần Quang V, sinh năm: 1988.

5.Bà Huyền Phương H2, sinh năm: 1992

6.Ông Trương Văn N2

7.Bà Huỳnh Thị Diệu M, sinh năm: 1998

8.Trẻ Thái Huỳnh Kim .

9.Ông Nguyễn Đức C: 2003

10.Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 2003

11.Ông Lê Phước H3, sinh năm: 1995

12.Bà Nguyễn Thị Hươ

13.Trẻ Võ Phi Vũ, sinh năm: 2008

14.Ông Nguyễn Trường G, sinh năm: 1986

15.Ông Lê Hoàng T2, sinh năm: 1982

16.Bà Võ Thị Thanh N3

17.Bà Vũ Ngọc Thúy T3, sinh năm: 2003

18.Trẻ Vũ Ngọc Thúy H4, sinh năm: 2009

19.Bà Lê Thị Thu H5, sinh năm: 1995

20.Bà Huỳnh B1: 1990

21.Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1995

22.Bà Mai Thị T5, sinh năm: 1979

23.Ông Hồ Gia B2, sinh năm: 2004

24.Bà Nguyễn Thúy A, sinh năm: 2006

25.Ông Lê Bá T6, sinh năm: 1977

26.Bà Bùi Thị L1, sinh năm: 1981

27.Ông/bà Nguyễn Đức Hòa L2, sinh năm: 1997

28.Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm: 2001

29.Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 2003

30.Ông Bàn Văn T8

31.Bà Mạ Thị T9, sinh năm: 2006

32.Ông Thạch Chanh Đ, sinh năm: 1999

33.Ông Lê Bá T10, sinh năm: 2004

34.Bà Thạch Thị D, sinh năm: 2002

35.Ông Nguyễn Ngọc L3, sinh năm: 1991

36.Trẻ Lê Phương T11, sinh năm: 2017

Cùng địa chỉ: B ấp A, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lê Duy T có mặt, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Duy T trình bày:

1.Ngày 16/11/2021, ông Phạm Đắc H, bà Võ Thị Kim B và Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh G1 – Phòng G2 cùng ký kết Hợp đồng cho vay số 4411/2021/HĐTD/PVB-PGD-VVT và giải ngân bằng Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021, chi tiết như sau:

Số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng) Số tiền giải ngân: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng) Ngày giải ngân: 17/11/2021

Thời hạn vay: 300 tháng

Mục đích sử dụng vốn: Vay mua bất động sản

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Do đó, ngày 04/11/2024, Ngân hàng TMCP Đ1 đã ban hành Thông báo số 8893/TB-PVB về thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B.

Tạm tính đến ngày 18/5/2026, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B còn nợ Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền 2.543.463.564 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 1.839.941.999 đồng; Tổng lãi: 703.521.565 đồng (Lãi trong hạn: 574.032.850 đồng; Lãi quá hạn: 48.766.459 đồng; Lãi phạt: 80.722.257 đồng).

2.Ngày 16/11/2021, ông Phạm Vũ H1 và Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh G1 – Phòng G2 cùng ký kết Hợp đồng cho vay số 4511/2021/HĐTD/PVB-PGD-VVT và giải ngân bằng Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021, chi tiết như sau:

Số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng) Số tiền giải ngân: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng) Ngày giải ngân: 17/11/2021

Thời hạn vay: 300 tháng

Mục đích sử dụng vốn: Vay mua bất động sản

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, ông Phạm Vũ H1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Do đó, ngày 04/11/2024, Ngân hàng TMCP Đ1 đã ban hành Thông báo số 8894/TB-PVB về thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của ông Phạm Vũ H1.

Tạm tính đến ngày 18/5/2026, ông Phạm Vũ H1 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền 2.527.892.562 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 1.833.325.000 đồng; Tổng lãi: 694.567.562 đồng (Lãi trong hạn: 574.461.645 đồng; Lãi quá hạn: 46.616.408 đồng; Lãi phạt: 73.489.509 đồng).

3.Ngày 16/11/2021, ông Phạm Vũ Trúc L và Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh G1 – Phòng G2 cùng ký kết Hợp đồng cho vay số 4611/2021/HĐTD/PVB-PGD-VVT và giải ngân bằng Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021, chi tiết như sau:

Số tiền cho vay: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) Số tiền giải ngân: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) Ngày giải ngân: 17/11/2021

Thời hạn vay: 300 tháng

Mục đích sử dụng vốn: Vay mua bất động sản

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, ông Phạm Vũ Trúc L đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Do đó, ngày 04/11/2024, Ngân hàng TMCP Đ1 đã ban hành Thông báo số 8895/TB-PVB về thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của ông Phạm Vũ Trúc L.

Tạm tính đến ngày 18/5/2026, ông Phạm Vũ Trúc L còn nợ Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền 1.245.102.848 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 913.059.987 đồng; Tổng lãi: 332.042.861 đồng (Lãi trong hạn: 276.189.830 đồng; Lãi quá hạn: 21.646.261 đồng; Lãi phạt: 34.206.770 đồng).

Để bảo đảm cho 03 khoản vay nêu trên, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B đã ký các hợp đồng sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 26/11/2020; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐSĐ01-3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 18/01/2021; Hợp đồng sửa đổi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐSĐ02-3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 16/11/2021.

Để thế chấp nhà, đất với thông tin chi tiết như sau:

1.Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 820; Tờ bản đồ số: 74;

Địa chỉ thửa đất: số B, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Diện tích: 332,7 m²;

Hình thức sử dụng: sử dụng riêng;

Mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn: 309,7 m², đất trồng cây lâu năm: 23 m²;

Thời hạn sử dụng: đất ở tại nông thôn: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: đến ngày 27/4/2065;

Nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 309,7 m², Công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 23 m²

2.Tài sản gắn liền với đất:

Loại tài sản: Nhà ở riêng lẻ; Diện tích xây dựng: 163 m²; Diện tích sàn: 213,8 m²;

Hình thức sở hữu: sở hữu riêng

Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD919256, số vào sổ cấp GCN: CH005769 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2016.

Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/11/2020, số thứ tự 4031.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Đ1 yêu cầu Tòa án:

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 1.245.102.848 đồng (bao gồm 913.059.987 đồng nợ gốc và 332.042.861 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Vũ H1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.527.892.562 đồng (bao gồm 1.833.325.000 đồng nợ gốc và 694.567.562 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.543.463.564 đồng (bao gồm 1.839.941.999 đồng nợ gốc và 703.521.565 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ H1 thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 19/5/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là nhà, đất tại thửa đất: 820, tờ bản đồ: 74; địa chỉ: số B, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD919256, số vào sổ cấp GCN: CH005769 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2016 để thu hồi nợ.

Tại bản tự khai ngày 12/8/2025 và bản tự khai đề ngày 09/9/2025 bị đơn ông Phạm Đắc H trình bày:

Ông H xác nhận vợ chồng ông H và bà Võ Thị Kim B có 02 (hai) người con chung tên là Phạm Vũ H1 và Phạm Vũ Trúc L.

Ông H xác nhận vào ngày 16/11/2021 vợ chồng ông có vay của Ngân hàng TMCP Đ1 đồng thời có nhờ hai con là Phạm Vũ Trúc L và Phạm Vũ H1 đứng tên vay trên Hợp đồng cho vay số 4511 và Hợp đồng cho vay số 4611. Quá trình ký kết hợp đồng vay và thế chấp tài sản cũng như việc trả lãi ông H xác nhận đúng với nội dung phía nguyên đơn trình bày, ông xác nhận việc nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện yêu cầu các bị đơn phải thanh toán khoản nợ gốc và lãi là đúng nhưng do tình hình kinh tế khó khăn gia đình ông không có khả năng trả nợ. Do đó, ông xin nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 cho thêm thời gian để ông sắp xếp trả nợ cho nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự cho các bị đơn bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Vũ H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng theo quy định nhưng các đương sự trên vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của các đương sự.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 196; Khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 73 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1. Về án phí: ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với các bị đơn ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B.

Bị đơn ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B đang cư trú tại xã V, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự giữa các bên đương sự được ký kết vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.

[4]Ngày 14/7/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 03 (ba) hồ sơ dân sự sơ thẩm số 09/2025/TLST- DS giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 với bị đơn là ông Phạm Vũ H1; hồ sơ dân sự sơ thẩm số 10/2025/TLST- DS giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 với bị đơn là ông Phạm Vũ Trúc L; hồ sơ dân sự sơ thẩm số 13/2025/TLST- DS giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 với bị đơn là ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B.

Trong quá trình giải quyết, xét thấy 03 (ba) vụ án có quan hệ pháp lý gắn kết vì cùng nguyên đơn, cùng loại hợp đồng, cùng thời điểm giao kết và cùng tài sản bảo đảm. Việc giải quyết tách biệt sẽ dẫn đến khó khăn trong xác định nghĩa vụ ưu tiên thanh toán, thứ tự xử lý tài sản, khả năng thi hành án và nguy cơ phát sinh khiếu nại và không giải quyết toàn diện vụ án. Do đó, căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 42; Điểm đ Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật tố tụng dân sự ngày 19/12/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định nhập vụ án số 38 nhập 03 vụ án lại thành 01 vụ án để giải quyết thống nhất, toàn diện, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

[5]Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[5.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

[5.1.1] Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 4411/2021/HĐTD/PVB-PGD- VVT ngày 16/11/2021; Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng ngày 16/11/2021; Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021 có chữ ký xác nhận của ông Phạm Đắc H, bà Võ Thị Kim B và đại diện Ngân hàng TMCP Đ1; đồng thời căn cứ vào phiếu uỷ nhiệm chi số bút toán FT21321MGVD9 ngày 17/11/2021 do nguyên đơn cung cấp có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B vay và đã giải ngân vào tài khoản người thụ hưởng do bị đơn cung cấp với số tiền 2.000.000.000 đồng;

[5.1.2] Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 4511/2021/HĐTD/PVB-PGD- VVT ngày 16/11/2021; Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng ngày 16/11/2021; Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021 có chữ ký xác nhận của ông Phạm Vũ H1 và đại diện Ngân hàng TMCP Đ1; đồng thời căn cứ vào phiếu uỷ nhiệm chi số bút toán FT2132121G7K ngày 17/11/2021 do nguyên đơn cung cấp có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn ông Phạm Vũ H1 vay và đã giải ngân vào tài khoản người thụ hưởng do bị đơn cung cấp với số tiền 2.000.000.000 đồng;

[5.1.3] Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 4611/2021/HĐTD/PVB-PGD- VVT ngày 16/11/2021; Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng ngày 16/11/2021; Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2021 có chữ ký xác nhận của ông Phạm Vũ Trúc L và đại diện Ngân hàng TMCP Đ1; đồng thời căn cứ vào phiếu uỷ nhiệm chi số bút toán FT213211KDJ4 ngày 17/11/2021 do nguyên đơn cung cấp có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn ông Phạm Vũ Trúc L vay và đã giải ngân vào tài khoản người thụ hưởng do bị đơn cung cấp với số tiền 1.000.000.000 đồng;

[5.1.4] Căn cứ Bảng kê tính lãi ngày 18/5/2026 thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 18/5/2026:

Ông Phạm Đắc H, bà Võ Thị Kim B đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền là 666.998.979 đồng (trong đó tổng số tiền gốc đã thanh toán: 160.058.001 đồng; tổng số tiền lãi đã thanh toán: 506.940.978 đồng)

Ông Phạm Vũ H1 đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền là 677.265.272 đồng (trong đó tổng số tiền gốc đã thanh toán: 166.675.000 đồng; tổng số tiền lãi đã thanh toán: 510.590.272 đồng)

Ông Phạm Vũ Trúc L đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền là 353.493.859 đồng (trong đó tổng số tiền gốc đã thanh toán: 86.940.013 đồng; tổng số tiền lãi đã thanh toán: 266.553.846 đồng)

Xét tính hợp pháp của sự thỏa thuận cho vay giữa các bên, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nội dung và hình thức của các hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và các bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định pháp luật nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Xét các bị đơn là ông Phạm Đắc H, bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được nguyên đơn thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho nguyên đơn là vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

[5.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi:

Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:“... 2.

Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.

Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ các khế ước nhận nợ đã ký kết và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện cấp tín dụng.

Do các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Đ1 đã chuyển số nợ gốc sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn theo quy định trong hợp đồng đã ký kết được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc các bị đơn phải thanh toán khoản tiền lãi nêu trên là có cơ sở theo quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng, Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[6]Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn là bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án trong đó nêu rõ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ1 về việc yêu cầu các bị đơn trả toàn bộ số tiền còn nợ phát sinh của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng các đương sự vẫn không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để giải quyết vụ án.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh và bị đơn phải chịu hậu quả về việc không phản đối và không chứng minh của mình.

[7]Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất quy định trong các hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8]Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 26/11/2020; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐSĐ01- 3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 18/01/2021; Hợp đồng sửa đổi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số HĐSĐ02- 3511/2020/HĐBĐ/PVB-PGD.VVT ngày 16/11/2021.

Căn cứ Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 26/11/2020 các bên đã thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp theo quy định tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung: Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai không phải là nhà ở tại thửa số 820, tờ bản đồ số 74 toạ lạc tại địa chỉ B, ấp B, xã V, huyện B (nay là ấp A, xã V), Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 11/8/20225 và xác minh của Công an xã V, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29/8/2025 có đủ cơ sở xác định tại thửa số 820, tờ bản đồ số 74 toạ lạc tại địa chỉ B, ấp B, xã V, huyện B (nay là ấp A, xã V), Thành phố Hồ Chí Minh ngoài các bị đơn thì còn có 36 công dân khác đang sinh sống.

Xét, theo quy định tại Điều 299, Khoản 6 Điều 320, Khoản 2 Điều 324 Bộ luật Dân sự thì bên thế chấp là ông H, bà B và bên thứ ba đang giữ tài sản thế chấp phải có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp là Ngân hàng để xử lý trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ1 về việc phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 820 thuộc tờ bản đồ số 74 tọa lạc tại địa chỉ B, ấp B, xã V, huyện B (nay là ấp A, xã V), Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD919256, số vào sổ cấp GCN: CH005769 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2016 để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 nếu đến hạn mà các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 1.245.102.848 đồng (bao gồm 913.059.987 đồng nợ gốc và 332.042.861 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Vũ H1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.527.892.562 đồng (bao gồm 1.833.325.000 đồng nợ gốc và 694.567.562 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.543.463.564 đồng (bao gồm 1.839.941.999 đồng nợ gốc và 703.521.565 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ H1 thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 19/5/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là nhà, đất tại thửa đất: 820, tờ bản đồ: 74; địa chỉ: số B, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD919256, số vào sổ cấp GCN: CH005769 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2016 để thu hồi nợ.

[9]Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[10]Về chi phí tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 25/7/2025; ngày 28/7/2025, ngày 08/8/2025. Do các bên đương sự không có thỏa thuận khác và yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn là ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B phải chịu chi phí tố tụng theo Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1, Khoản 3 Điều 42; điểm đ Khoản 1, Khoản 2 Điều 47; Khoản 2 Điều 91; Khoản 2 Điều 92; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 280; Điều 299; Khoản 6 Điều 320; Khoản 2 Điều 324; Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 1.245.102.848 đồng (bao gồm 913.059.987 đồng nợ gốc và 332.042.861 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Vũ H1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.527.892.562 đồng (bao gồm 1.833.325.000 đồng nợ gốc và 694.567.562 đồng nợ lãi).

Buộc ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/5/2026 là 2.543.463.564 đồng (bao gồm 1.839.941.999 đồng nợ gốc và 703.521.565 đồng nợ lãi).

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B, ông Phạm Vũ H1 thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 19/5/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là nhà, đất tại thửa đất: 820, tờ bản đồ: 74; địa chỉ: số B, ấp B, xã V, huyện B (nay là ấp A, xã V), Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD919256, số vào sổ cấp GCN: CH005769 do Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2016 để thu hồi nợ.

Các bên thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Vũ H1, ông Phạm Vũ Trúc L, ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền chi phí tố tụng là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

3.Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Vũ Trúc L phải chịu số tiền 49.353.085 đồng (bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi ba nghìn không trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Phạm Vũ H1 phải chịu số tiền 82.557.851 đồng (tám mươi hai triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Phạm Đắc H và bà Võ Thị Kim B phải chịu số tiền 82.869.271 đồng (tám mươi hai triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 37.891.975 đồng (ba mươi bảy triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm bảy mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0078102 ngày 25/3/2025; số tiền 37.760.584 đồng (ba mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0078101 ngày 25/3/2025; số tiền 22.067.047 đồng (hai mươi hai triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm bốn mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0078100 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

51
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 996/2026/DS-ST ngày 18/05/2026

Số hiệu:996/2026/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 1 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/05/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về