TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
BẢN ÁN 97/2024/DS-ST NGÀY 23/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử vụ án Dân sự thụ lý số 386/2024/DSST ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐST-XX ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Công ty T - Người đại diện theo pháp luật ông LEE YUN HYOUNG, chức danh Tổng giám đốc.
Địa chỉ: I P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L1 - Người đại diện theo pháp luật ông Cồ Lê H (văn bản uỷ quyền số 09/2024/GUQ-MAFC , ngày 02-5-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Bá L ( Văn bản uỷ quyền 106/GUQ-2024, ngày 05-7-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1981 Địa chỉ: 1 T, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu( vắng mặt đến lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22-5-2024 và qua quá trình làm việc, đại diện Công ty T “Tên viết tắt Công ty T” trình bày:
Nội dung: Công ty T đề nghị Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét giải quyết buộc ông Phạm Văn X thanh toán toàn bộ khoản vay, bao gồm dư gốc, lãi và phí tạm tính đến ngày 03-5-2024 là 36.021.125đ(Ba mươi sáu triệu không trăm hai mươi một ngàn một trăm hai mươi lăm đồng).
Ngày 07-3-2023; Công ty T và ông Phạm Văn X ký Hợp đồng tín dụng số 4375464 về việc cho ông X vay số tiền 30.156.000d (Ba mươi triệu một trăm năm mươi sáu ngàn đồng); trong đó nợi gốc là 28.000.000đ(Hai mươi tám triệu đồng) và 2.156.000đ (Hai triệu một trăm năm mươi sáu ngàn) tiền bảo hiểm cho khoản vay; thời hạn vay 30 tháng, ngày giải ngân ông X nhận đủ số tiền vay ngày 09-3-2023; lãi suất cho vay 50%/ năm.
Mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tìn chấp không có tài sản bảo đảm.
Quá trình thực hiện hợp đồng: ông X thành toán được 09 kỳ với tổng số tiền là 11.050.838đ( Mười một triệu không trăm năm mươi ngàn tám trăm ba mươi tám đồng); trong đó nợ gốc trả được 6.874.825đ(Sáu triệu tám trăm bảy mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi lăm đồng; nợ lãi 4.176.013đ(Bốn triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn không trăm mươi ba đồng).
Tính đến ngày 03-5-2024 số nợ ông X còn phải trả như sau:
Số nợ gốc, nợ lãi ông X phải trả: 36.021.125đ(Ba mươi sáu triệu không trăm hai mươi mốt ngàn một trăm hai mươi lăm đồng);Trong đó:
Nợ gốc còn phải trả là: 29.371.175đ (Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng);
Nợ lãi trong hạn, lãi phạt, lãi chậm trả: 6.649.950đ(Sáu triệu sáu trăm bốn mươi chín ngàn chín trăm năm mươi đồng);
Bị đơn ông Phạm Văn X không chấp hành theo giấy triệu tập làm việc của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; ông X vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu phát biểu:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về việc thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
[2] Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T đối với bị đơn ông Phạm Văn X.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Phạm Văn X phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Công ty T được cấp gấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTT; mã số doanh nghiệp C; đăng ký lần đầu ngày 08-9-2011, đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 02-4-2024, kèm Giấy phép số 73/GP-NHNN, ngày 12-11-2021, thành lập và hoạt đồng Công ty T , được thực hiện các hoạt động của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và cùa Ngân hàng N trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.
Ngày 08-3-2023; Công ty T và ông Phạm Văn X ký Hợp đồng tín dụng số 4375464 về việc cho ông X vay số tiền 30.156.000d (Ba mươi triệu một trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
Mục đích vay vốn của ông Phạm Văn X, vay tiêu dùng cho cá nhân; nay xảy ra tranh chấp xác định đây là vụ án Dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” căn cứ Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
Theo địa chỉ ghi trên Hợp đồng tín dụng thì ông Phạm Văn X cư trú tại số A T, phường A, thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 07-8-2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đưa vụ án ra xét xử bị đơn ông Phạm Văn X; vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên Tòa.
Nay phiên Tòa được mở lại bị đơn ông Phạm Văn X vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan, vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử căn cứ điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Phạm Văn X.
Nguyên đơn Công ty T có đơn xin xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của nguyên đơn không ảnh hưởng tới phiên xét xử do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn Công ty T.
[2] Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn Công ty T yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn X trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 41.833.759đ(Bốn mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng); trong đó:
+ Nợ gốc 29.371.175đ(Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 9.625.200đ(Chí triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm đồng);
+Nợ lãi quá hạn: 2.442.077đ(Hai triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng);
+Nợ lãi chậm trả: 395.307đ(Ba trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm lẻ bảy đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày ông Phạm Văn X thanh toán xong khoản nợ.
[3] Xét hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4375464, ngày 07-3-2023; Hội đồng xét xử nhận định: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty T kèm theo các tài liệu chứng cứ có đủ cơ sở để nhận định:
Ngày 08-3-2023, ông Phạm Văn X có giao kết với Công ty T Hợp đồng tín dụng số 4375464; xét hình thức của hợp đồng được lập thành văn bản do người có thẩm quyền của Công ty T và ông Phạm Văn X tự nguyện giao kết.
Tuy ông X không trực tiếp ký tên vào Hợp đồng nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số do ông X đã đăng ký loại chứng thư số OID-B1.0 -1D do trung tâm D chứng nhận.
Xét thấy; theo Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về giá trị của chữ ký số như sau: “ Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP.Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ- CP quy định chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
“ Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số đó”;
“ Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chứng sau đây cấp:
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số Chính phủ;
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chữ ký số của ông Phạm Văn X đăng ký và được Trung tâm D cung cấp. Công ty TNHH H1 là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT- CA, theo giấy phép cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng 527/GP-BTTTT, ngày 12-10-2015, của Bộ T1 nên chữ ký số ông X đăng ký có giá trị pháp lý.
Xét về nội dung của Hợp đồng tín dụng số 4375464, ngày 07-3-2023 không vị phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý trí tự nguyện của các bên giao kết, phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự ; Điều 122, Điều 123 và Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015; do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4375464, ngày 07-3-2023 giao kết giữa ông Phạm Văn X với Công ty T có hiệu lực pháp luật.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn X trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 41.833.759đ(Bốn mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng); trong đó:
+ Nợ gốc 29.371.175đ(Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 9.625.200đ(Chí triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm đồng);
+Nợ lãi quá hạn: 2.442.077đ(Hai triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng);
+Nợ lãi chậm trả: 395.307đ(Ba trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm lẻ bảy đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024, đến ngày ông Phạm Văn X thanh toán xong khoản nợ; Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn ông X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Điều 8 của hợp đồng. Bị đơn ông X mới trả được nợ gốc là 6.874.825đ(Sáu triệu tám trăm bảy mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi lăm đồng) và nợ lãi 4.176.013đ(Bốn triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn không trăm mươi ba đồng).
Bị đơn ông X đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, không cung cấp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ do bị đơn ông X giao nộp.
[5] Từ nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T đối với bị đơn ông Phạm Văn X; buộc bị đơn ông Phạm Văn X phải trả số tiền 41.833.759đ (Bốn mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng), cho nguyên đơn Công ty T tính đến ngày 20-8-2024.
Trong đó:
+ Nợ gốc 29.371.175đ(Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 9.625.200đ(Chí triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm đồng);
+Nợ lãi quá hạn: 2.442.077đ(Hai triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng);
+Nợ lãi chậm trả: 395.307đ(Ba trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm lẻ bảy đồng); và tiền lãi phát sinh theo hợp vay số 4375464, ngày 07-3-2023, được tính từ ngày 21-8-2024 cho đến ngày bị đơn ông Phạm Văn X trả hết nợ cho nguyên đơn Công ty T.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Phạm Văn X có lỗi hoàn toàn nên phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm;
Cách tính án phí:( Từ 6.000.000đ đến 400.000.000đ phải chịu 5% giá trị tài sản tranh chấp).
Về án phí DDST: Bị đơn ông Phạm Văn X phải chịu là 2.091.688đ (Hai triệu không trăm chín mươi mốt ngàn sáu trăm tám mươi tám đồng).
Nguyên đơn Công ty T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 900.000đ(Chín trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0000274, ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố vũng Tàu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 , điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 8, Điều 27 và Điều 73 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 02 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T đối với bị đơn ông Phạm Văn X.
[1.1] Buộc ông Phạm Văn X phải trả cho Công ty T số tiền là 41.833.759đ(Bốn mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng), tính đến ngày 20-8-2024;
Trong đó:
+ Nợ gốc 29.371.175đ(Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi lăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 9.625.200đ(Chí triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn hai trăm đồng);
+Nợ lãi quá hạn: 2.442.077đ(Hai triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng);
+Nợ lãi chậm trả: 395.307đ(Ba trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm lẻ bảy đồng); và tiền lãi phát sinh theo hợp vay số 4375464, ngày 07-3-2023, được tính từ ngày 21-8-2024, cho đến ngày bị đơn ông Phạm Văn X trả hết nợ cho nguyên đơn Công ty T.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[2.1] Bị đơn: Ông Phạm Văn X phải chịu là 2.091.688đ (Hai triệu không trăm chín mươi mốt ngàn sáu trăm tám mươi tám đồng).
[2.2] Nguyên đơn Công ty T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 900.000đ(Chín trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0000274, ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 97/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 97/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 23/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về