TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 97/2023/DS-ST NGÀY 26/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2023 về việc: “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122B/2023/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); địa chỉ trụ sở: số A T, phường M, quận T, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T; chức vụ Tổng Giám đốc A; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tất T1; chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch Kinh doanh A chi nhánh thành phố R- Kiên Giang (Giấy ủy quyền ngày 15/3/2023, có mặt).
2. Bị đơn: Ông La Thanh P, sinh năm 1977 (vắng mặt) và Bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1976 (vắng mặt); cùng địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của Nguyên đơn Ngân hàng N (A) trình bày: Theo Hợp đồng tín dụng số 7715LAV202100431 ngày 26/5/2021 được ký kết giữa A chi nhánh thành phố R- Kiên Giang với vợ chồng ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L thì A cho ông P và bà L vay số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích sử dụng vốn vay: bù đắp chi phí sửa chữa nhà; thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày vay 26/5/2021 đến hết ngày 22/5/2022; lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là 10%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất diện tích diện tích đất 7.000m2, thuộc thửa đất số 144e, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 971783 do UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 31/07/2006 đứng tên bà Phạm Thị Kim L, theo hồ sơ Hợp đồng thế chấp số 7715LCL201900062 ký ngày 18/01/2019; đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 30/01/2019.
Từ ngày nhận tiền vay đến ngày 26/9/2023, ông P và bà L đã trả được số tiền gốc 120.398.000 đồng (một trăm hai mươi triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng) và tiền lãi 24.931.452 đồng (hai mươi tư triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng); còn nợ lại tiền gốc là 129.602.000 đồng (một trăm hai mươi chín triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng) và tiền lãi là 43.582.937 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi hai nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng), cộng tiền gốc và lãi là 173.184.937 đồng (một trăm bảy mươi ba triệu một trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng). Do ông P bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên kể từ ngày 22/5/2022, toàn bộ số dư nợ đã chuyển sang nợ xấu. Ngân hàng đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi, nhắc nhở ông bà trả nợ nhưng ông bà không thực hiện nghĩa vụ, do đó A khởi kiện yêu cầu ông P và bà L trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 173.184.937 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 26/9/2023 cho đến khi trả hết nợ vay. Trường hợp bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị Kim L trình bày: Về quá trình vay vốn, ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như A chi nhánh thành phố R- Kiên Giang trình bày là đúng. Tại bản tự khai và phiên hòa giải ngày 15/3/2023, bà L thừa nhận tính đến ngày 15/3/2023, vợ chồng bà mới trả được A số tiền gốc 398.000 đồng và tiền lãi 24.931.452 đồng, còn nợ lại tiền gốc là 249.602.000 đồng (hai trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng); lãi tính đến ngày 15/03/2023 là 31.020.742 đồng; tổng cộng nợ gốc và lãi là 280.622.742 đồng (hai trăm tám mươi triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng). Bà xin được trả dần như sau: Từ ngày 15/3/2023 đến ngày 15/4/2023, cam kết trả tiền vay gốc 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng); Từ ngày 15/4/2023 đến ngày 15/5/2023, cam kết trả toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh đến ngày 15/3/2023 còn lại là 160.622.742 đồng (một trăm sáu mươi triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng) và tiền lãi tiếp tục phát sinh sau ngày 15/3/2023 cho đến khi trả hết nợ.
Tuy nhiên đến ngày xét xử, vợ chồng ông P bà L mới trả được thêm số tiền gốc 120.000.000 đồng.
Bị đơn ông La Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.
Tại phiên tòa, nguyên đơn A xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc vợ chồng ông P bà L phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc 120.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 173.184.937 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 26/9/2023 cho đến khi trả hết nợ vay.
Kiểm sát viên - đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 463, 468, 317, 320 và Điều 323 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của A về việc yêu cầu ông P và bà L phải trả số tiền gốc là 120.000.000 đồng.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của A về việc buộc ông P và bà L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 129.602.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 43.582.937 đồng, cộng tiền gốc và lãi là 173.184.937 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 26/9/2023 cho đến khi trả hết nợ vay.
Trường hợp ông P bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho A thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp của ông P bà L để thanh toán khoản vay tại Ngân hàng.
- Về án phí: Ông P bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1. Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông P bà L, nhưng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
A khởi kiện vợ chồng ông P bà L yêu cầu trả số tiền gốc và lãi vay Ngân hàng, bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên căn cứ theo quy định tại khoản 3, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa hai bên là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
[2] Xét Hợp đồng tín dụng số 7715LAV202100431 ngày 26/5/2021 được ký kết giữa A chi nhánh thành phố R- Kiên Giang với vợ chồng ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L là hợp đồng vay có lãi, có kỳ hạn trả nợ, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn được các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 468 Bộ luật Dân sự, xét thấy hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, nội dung và hình thức của hợp đồng không trái đạo đức và không trái với quy định của pháp luật, do đó hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A về việc buộc ông P bà L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 173.184.937 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi ký hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho ông P bà L số tiền gốc 250.000.000 đồng, ông P bà L đã nhận đủ tiền. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P bà L mới trả được số tiền gốc 120.398.000 đồng và tiền lãi 24.931.452 đồng, còn nợ lại tiền gốc là 129.602.000 đồng và tiền lãi là 43.582.937 đồng, cộng tiền gốc và lãi là 173.184.937 đồng. Xét thấy khi đến hạn trả nợ (ngày 23/5/2023), bên vay ông P bà L đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận hai bên ký kết trong hợp đồng, do đó căn cứ vào các quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng và các điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông P bà L phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho A số tiền gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 173.184.937 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 26/9/2023 cho đến khi trả hết nợ vay.
[4] Về tài sản thế chấp, theo Hợp đồng tín dụng số 7715LAV202100431 ký ngày 26/5/2021, Hợp đồng thế chấp số 7715LCL201900062 ký ngày 18/01/2019, bên thế chấp ông P bà L thỏa thuận thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất diện tích diện tích đất 7.000m2, thuộc thửa đất số 144e, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 971783 do UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 31/07/2006 đứng tên bà Phạm Thị Kim L, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông P bà L tại các hợp đồng cấp tín dụng đã ký và các hợp đồng tín dụng phát sinh trong tương lai giữa hai bên (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan, nếu có (Điều 2 của hợp đồng thế chấp), xét thấy sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 317, khoản 6, Điều 320 và khoản 7, Điều 323 của Bộ luật Dân sự, nên có hiệu lực thi hành. Do đó trường hợp ông P bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho A (không trả hoặc trả không đầy đủ) thì A được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản đang thế chấp của ông P bà L tại Ngân hàng để thu hồi nợ.
[5] Tại phiên tòa, nguyên đơn A xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc vợ chồng ông P bà L phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc 120.000.000 đồng, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên có cơ sở chấp nhận.
[6] Trong quá trình hòa giải, bị đơn bà L xin trả dần tiền gốc và lãi vay cho A theo thời hạn bà cam kết nhưng bà không thực hiện đúng nghĩa vụ, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Ngân hàng không đồng ý cho ông P bà L tiếp tục trả dần nợ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
[7] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông P bà L phải chịu chi phí tố tụng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là phù hợp với quy định tại Khoản 2, Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. A đã nộp tạm ứng, do đó ông P bà L có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền trên.
[9] Về án phí, do yêu cầu khởi kiện của A được chấp nhận nên căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông P bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 463, 468, 317, 320 và Điều 323 Bộ luật Dân sự; khoản 2, Điều 70; khoản 2 Điều 244 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N (A) về việc yêu cầu ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L phải trả số tiền gốc là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N (A) về việc buộc ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho A số tiền gốc là 129.602.000 đồng (một trăm hai mươi chín triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 26/9/2023 là 43.582.937 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi hai nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng), cộng tiền gốc và lãi là 173.184.937 đồng (một trăm bảy mươi ba triệu một trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng).
Kể từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông P bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông P bà L vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về xử lý tài sản thế chấp:
Khi án có hiệu lực pháp luật, trường hợp ông P bà L đã trả hết số nợ gốc và lãi cho A thì Ngân hàng phải có trách nhiệm trả lại cho ông P bà L Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 971783 do UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 31/7/2006 đứng tên bà Phạm Thị Kim L ngay sau khi các bên tất toán toàn bộ nợ vay của Hợp đồng tín dụng số 7715LAV202100431 ngày 26/5/2021 ký kết giữa A chi nhánh thành phố R- Kiên Giang với ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L.
Trường hợp ông P bà L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nợ gốc và lãi cho A thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản ông P bà L thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích diện tích đất: 7.000m2, thuộc thửa đất số 144e, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 971783 do UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 31/7/2006 đứng tên bà Phạm Thị Kim L.
4. Về chi phí tố tụng: Ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L phải chịu chi phí tố tụng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). A đã nộp tạm ứng, do đó ông P bà L có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền trên.
5. Về án phí: Ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 8.659.000 đồng (tám triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng).
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.576.000 đồng (sáu triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004358 ngày 01/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (Đinh Quốc T2 nộp thay).
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn A có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị đơn ông La Thanh P và bà Phạm Thị Kim L vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 97/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 97/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 26/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về