TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 88/2024/DS-ST NGÀY 29/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2024/TLST-DS ngày 05/6/2024 về việc “tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
183/2024/QĐXXST-DS ngày 22/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
137/2024/QĐST-DS ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT Địa chỉ: Số 266-268, NKKN, Phường VTS, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám Đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh G - Chức vụ: Trưởng phòng gia dịch Ngân hàng TMCP SGTT - Chi nhánh Đồng Tháp – phòng giao dịch Lấp Vò (Giấy Ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PL ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng SGTT).
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hồ H, sinh năm 1989 - Chức vụ: Chuyên viên khách hàng phòng giao dịch Lấp Vò (giấy ủy quyền số: 122/2024/GUQ- PGD ngày 28/5/2024 của Trưởng phòng gia dịch Ngân hàng TMCP SGTT - Chi nhánh Đồng Tháp – phòng giao dịch Lấp Vò).
2. Bị đơn: Ông Đinh Văn H, sinh năm 1965; Địa chỉ cư trú: Số 370, khóm BH, thị trấn LV, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa anh Hồ H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: ngân hàng có cho ông H sử dụng vốn trên thẻ tín dụng theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2560378 ngày 02/3/2023. Cụ thể: hạn mức thẻ là 30.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 33,2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng vào ngày 15/3/2023 ngân hàng đã chuyển cho ông H với tổng số tiền 30.000.000 đồng nâng tổng dư nợ vay tại ngân hàng lên 30.299.000 đồng, trong đó phí thường niên 299.000 đồng. Qúa trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 15/5/2024 là 9.280.000 đồng. Kể từ ngày 16/12/2023 ông H ngưng thanh toán cho ngân hàng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Nay ngân hàng yêu cầu ông H trả cho ngân hàng nợ gốc 34.403.456 đồng và tiền lãi 635.550 đồng.
- Đối với anh H Tòa án đã tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H không có văn bản nào trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh H hiện sinh sống tại huyện LV, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005. Anh H đã được Tòa án tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mà vắng mặt lần 2 không lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Ngân hàng có cho ông H sử dụng vốn trên thẻ tín dụng theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2560378 ngày 02/3/2023. Cụ thể: hạn mức thẻ là 30.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 33,2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Nay ngân hàng yêu cầu ông H trả cho ngân hàng nợ gốc 34.403.456 đồng và tiền lãi 635.550 đồng.
Để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, phía Ngân hàng TMCP SGTT có cung cấp cho Tòa án giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số hợp đồng số 2560378 ngày 02/3/2023 giữa Ngân hàng TMCP SGTT với anh H.
Từ những chứng cứ trên chứng minh hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP SGTT với anh H là có thật.
Tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Điều 463. Hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” “Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay 1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.” Anh H mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng đều vắng mặt không lý do, không có văn bản ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, do đó mọi hậu quả pháp lý anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên, Ngân hàng TMCP SGTT yêu cầu anh H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP SGTT nợ gốc 34.403.456 đồng và tiền lãi 635.550 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 35.039.006 đồng. Đồng thời buộc anh H tiếp tục trả lãi kể từ ngày 30/8/2024 theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ, Tòa án chấp nhận.
[3]. Về án phí: Anh H bị buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự nên phải nộp án phí sơ thẩm dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 463, 466, 470, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SGTT - Buộc anh Đinh Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền gốc 34.403.456 đồng (ba mươi bốn triệu bốn trăm lẻ ba nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng) và tiền lãi 635.550 đồng (sáu trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi đồng). Tổng cộng vốn và lãi là 35.039.006 đồng (ba mươi lăm triệu không trăm ba mươi chín nghìn không trăm lẻ sáu đồng). Đồng thời buộc anh H tiếp tục trả lãi kể từ ngày 30/8/2024 theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số hợp đồng số 2560378 ngày 02/3/2023 đã ký cho đến khi trả xong nợ.
2. Về án phí: Buộc anh Đinh Văn H có nghĩa vụ nộp 1.752.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP SGTT được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007466 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
3. Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 88/2024/DS-ST ngày 29/08/2024
| Số hiệu: | 88/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về