Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 85/2021/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 85/2021/DS-ST NGÀY 16/11/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-DS ngày 06/01/2021 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2021/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP KL.

Địa chỉ: đường Ph, phường V, thành phố R, tỉnh K.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Nguyễn Khánh C (Có mặt).

Chức vụ: Giám đốc Phòng Giao dịch C.

Địa chỉ: Quốc lộ 1, phường L, quận C, thành phố C(Giấy ủy quyền 25/11/2020).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực Y, phường L, quận C, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP KL (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 09/5/2018 Ngân hàng cùng với ông A thỏa thuận ký kết Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 006/18/TC/0401-5824 kèm Phụ lục Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank (loại thẻ Visa Classic) với hạn mức 40.000.000 đồng, lãi 22%/năm (Bút lục 09-19). Quá trình sử dụng dịch vụ thẻ ông A nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận, Ngân hàng nhiều lần thông báo, nhắc nhở (Bút lục 07) nhưng ông vẫn không thực hiện, cố tình trốn tránh. Tạm tính đến ngày 10/7/2020 ông A nợ tổng cộng 74.739.073 đồng (Trong đó: gốc 39.800.000 đồng, nợ lãi 17.928.562 đồng, phạt chậm trả chưa thanh toán 10.497.110 đồng, phạt vượt hạn mức 6.513.401 đồng). Ngân hàng yêu cầu ông A phải trả số nợ trên và tiền lãi, phí, phạt phát sinh theo thỏa thuận kể từ ngày 11/7/2020 cho đến khi trả hết nợ.

Bị đơn ông A vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được lời trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Diễn biến tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu đối với tiền nợ gốc 39.800.000 đồng, điều chỉnh, cập nhật số tiền lãi, phí, phạt phát sinh tính đến ngày 16/11/2021 lãi chưa thanh toán 29.767.744 đồng, phạt chậm trả 20.577.110 đồng, phạt vượt hạn mức 25.848.840 đồng. Tổng số tiền phải trả là 115.993.694 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận kể từ ngày 17/11/2021 cho đến khi trả hết nợ. Ông A vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký tòa án cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, Điều 93 đến Điều 97, 195, 196, 203 và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tuy nhiên vụ án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, kiến nghị khắc phục. Đương sự thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, quá trình giải quyết vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa chứng minh được ông A có thỏa thuận, ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông A vi phạm nghĩa vụ trả nợ mặc dù đã được Ngân hàng thông báo, nhắc nhở. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ 115.993.694 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận kể từ ngày 17/11/2021 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ngân hàng và ông A phát sinh quan hệ vay tiền khi sử dụng Thẻ tín dụng, quá trình sử dụng ông vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, Ngân hàng khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại Khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a Khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng.

[2] Ông A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.

[3] Hợp đồng tín dụng được ông A sử dụng vào mục đích vay tiêu dùng cá nhân, quá trình vay ông không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng thông báo, nhắc nhở trả nợ vào ngày 14/5/2020. Kể từ khi Tòa án thụ lý giải quyết đến nay ông vẫn vắng mặt, không có thiện chí trả nợ, có đủ căn cứ xác định ông Long vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký được quy định tại Khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng nên ông phải có nghĩa vụ trả toàn bộ tiền nợ gốc, lãi, phạt tính đến ngày 16/11/2021 là 115.993.694 đồng. Ngoài ra, ông còn phải trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận kể từ ngày 17/11/2021 cho đến khi trả hết nợ.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng có căn cứ chấp nhận, ông A phải chịu 5.800.000 đồng (đã làm tròn) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39;

Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 95, điểm a Khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KL.

Buộc ông Nguyễn Văn A phải trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền 115.993.694 đồng. Ông A phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận kể từ ngày 17/11/2021 cho đến khi trả hết nợ.

Ông Nguyễn Văn A phải chịu 5.800.000 đồng (đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng TMCP KL được nhận lại tiền tạm ứng đá nộp 1.868.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/006632 ngày 31/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

155
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 85/2021/DS-ST

Số hiệu:85/2021/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Cái Răng - Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/11/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về