TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 807/2026/DS-ST NGÀY 28/04/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2026/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 689/2026/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1121/2026/QĐST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Địa chỉ: I P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm 2000; (Giấy uỷ quyền số 22/2025/GUQ-MAFC ngày 17/4/2025; Giấy uỷ quyền lập ngày 17/4/2025).(có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: P, tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Bà Trần Tống Diệp K, sinh năm 1993.(vắng mặt)
Địa chỉ: B ấp B, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Phạm Thành N trình bày:
Ngày 10/01/2024, Công ty T (Việt Nam) ký Hợp đồng tín dụng số: 5213111 về việc cấp tín dụng cho bà Trần Tống Diệp K với khoản vay trị giá 27.571.200 đồng được giải ngân ngày 10/01/2024 với mức lãi suất 50%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty T (Việt Nam) đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Trần Tống Diệp K, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của bà Trần Tống Diệp K. Theo hợp đồng tín dụng, bà Trần Tống Diệp K có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.792.863 đồng trong kỳ hạn 30 tháng, kể từ ngày 25/01/2024 đến ngày 25/06/2026 cho Công ty.
Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Trần Tống Diệp K chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty T (Việt Nam) được 9 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán 9.894.282 đồng. Trong đó: Tổng lãi đã trả: 9.786.282 đồng (bao gồm 4.170 đồng tiền lãi chậm trả) và tổng phí đã trả: 108.000 đồng
Ngày 09/10/2024 đến nay bà Trần Tống Diệp K không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T (Việt Nam).
Công ty T (Việt Nam) đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà Trần Tống Diệp K biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà Trần Tống Diệp K vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho phía Công ty T (Việt Nam).
Do đó, Công ty T (Việt Nam) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Tống Diệp K thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 28/04/2026 là: 53.294.842 đồng. Trong đó:
Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 27.571.200 đồng. Số tiền lãi trong hạn: 17.659.596 đồng.
Số tiền lãi quá hạn: 6.506.996 đồng. Số tiền lãi chậm trả: 1.557.050 đồng.
Ngoài ra Công ty T (Việt Nam) còn yêu cầu cá nhân bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 29/4/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng đã ký.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự cho bị đơn bà Trần Tống Diệp K tham gia tố tụng theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà K.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – Ông Nguyễn Phạm Thành N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Trần Tống Diệp K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 196; Khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam). Về án phí: Bà Trần Tống Diệp K phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Trần Tống Diệp K có nơi cư trú tại xã H, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Tống Diệp K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3]Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự giữa các bên đương sự ký kết vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.
[4]Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5213111 ngày 10/01/2024 giữa Công ty T (Việt Nam) và bà Trần Tống Diệp K; Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT CA ngày 12/9/2025; Phiếu báo nợ được in từ Ngân hàng điện tử của T1 thể hiện ngày 10/01/2024; Giấy chứng nhận bảo hiểm sức khoẻ người vay tín dụng ngày 11/01/2024;
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ngày 10/01/2024 Công ty T (Việt Nam) có cho bà Trần Tống Diệp K vay số tiền 27.571.200 đồng (gồm 25.600.000 đồng giải ngân ngày 10/01/2024 qua số tài khoản 6503250162083 mở tại Ngân hàng N1 (A) và
1.971.200 đồng tiền bảo hiểm khoản vay).
Xét tính hợp pháp của sự thỏa thuận cho vay giữa các bên, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nội dung và hình thức của Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5213111 ngày 10/01/2024 giữa nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định pháp luật nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét bị đơn bà Trần Tống Diệp K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được nguyên đơn thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho nguyên đơn là vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ lãi:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5213111 ngày 10/01/2024 được ký kết giữa các bên, nhận thấy sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà không cần phải điều chỉnh.
Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng ngày 28/4/2026 và bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ngày 28/4/2026 thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Tống Diệp K đã thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền là: 9.894.282 đồng (trong đó: lãi đã trả: 9.786.282 đồng; phí đã trả: 108.000 đồng).
Kể từ ngày 09/10/2024 cho đến nay bị đơn đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết. Do bà Trần Tống Diệp K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn và yêu cầu bà Trần Tống Diệp K thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ và tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại mục 8 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng đã ký kết vào ngày 10/01/2024.
Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:“. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc. ”.
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Do bị đơn bà Trần Tống Diệp K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán các khoản lãi là có cơ sở theo quy định Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
[4.3] Căn cứ kết quả xác minh ngày 03/02/2026 của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của bị đơn thì bà Trần Tống Diệp K có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại B7/201/4 ấp B, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Tống Diệp K đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó nêu rõ yêu cầu của Công ty T (Việt Nam) về việc yêu cầu bà Trần Tống Diệp K trả toàn bộ số tiền còn nợ của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 5213111 ngày 10/01/2024 nhưng bị đơn vẫn không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh và bị đơn phải chịu hậu quả về việc không phản đối và không chứng minh của mình.
[5]Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/4/2026 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Trần Tống Diệp K có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5213111 ngày 10/01/2024 cho Công ty T (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính kể từ ngày 09/10/2024 (ngày chuyển nợ quá hạn) đến ngày 28/4/2026 là: 53.294.842 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc: 27.571.200 đồng; số tiền lãi trong hạn: 17.659.596 đồng; số tiền lãi quá hạn: 6.506.996 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.557.050 đồng và bà K còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/4/2026 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[6]Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Công ty T (Việt Nam) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 117, 119, Điều 280, Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Buộc bà Trần Tống Diệp K có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 28/4/2026 là: 53.294.842 đồng (năm mươi ba triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc là: 27.571.200 đồng; số tiền lãi trong hạn: 17.659.596 đồng; số tiền lãi quá hạn: 6.506.996 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.557.050 đồng,
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 29/4/2026 bà Trần Tống Diệp K còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
2.Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Tống Diệp K phải chịu 2.664.742 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) số tiền 1.023.838 đồng (một triệu không trăm hai mươi ba nghìn tám trăm ba mươi tám đồng) đã nộp theo theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0047134 ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3.Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 807/2026/DS-ST ngày 28/04/2026
| Số hiệu: | 807/2026/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận 1 - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 28/04/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về