TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
BẢN ÁN 63/2026/DS-ST NGÀY 11/03/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2026/TLST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2026/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V Địa chỉ: 89, Láng H, phường Đ, Hà N Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T – Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân. Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Đỗ Thành T: Ông Bùi Văn S – Trưởng bộ phận xử lý nợ và ông Nguyễn Thành Đ – Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng; Cùng địa chỉ: Tầng 3, số 353, đường Nguyễn Văn C, phường C, Tp C (xin vắng mặt).
– Bị đơn: Ông Lê Bá B – sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1A, dây A, Trần Hoàng N, phường Tân A, thành phố C
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn ngân hàng thương mại cổ phần V trình bày: Ngày 16/04/2015 ông Lê Bá B đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử với hạn mức: 131.000.000 đồng. Mục đích vay là phục vụ nhu cầu đời sống; lãi suất 39.48% năm. Thời điểm vi phạm từ ngày 07/03/2025. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là khách hàng không thanh toán nợ gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng thì khách hàng đã không thanh toán cho Ngân hàng tổng dư nợ tạm tính đến ngày 11/03/2026 là 321.526.523 đồng (Trong đó nợ gốc: 199.873.511 đồng, nợ lãi 121.653.012 đồng).
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Lê Bá B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V ngay một lần số tiền còn nợ tạm tính đến 11/03/2026 là 321.526.523 đồng (Trong đó nợ gốc: 199.873.511 đồng, nợ lãi 121.653.012 đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày 12/03/2026 trở đi ông Lê Bá B còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBank.
* Bị đơn ông Lê Bá B: Không có ý kiến trong vụ án.
Phía đại diện nguyên đơn có yêu cầu không qua thủ tục hòa giải, đề nghị đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ngày 16/4/2015 giữa Ngân hàng và ông B đã ký hợp đồng cho vay và giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ với nhau, mục đích vay: tiêu dùng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông B không thực hiện theo đúng theo thỏa thuận nên Ngân hàng có đơn khởi kiện nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Ông B cư trú tại phường Tân An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 35 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án ngày 25/6/2025.
[2] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của ngân hàng có đơn xin vắng mặt; Ông Lê Bá B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự.
[3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B phải trả cho ngân hàng số tiền 321.526.523 đồng theo các hợp đồng cấp hạn mức tín dụng ông B đã ký kết với ngân hàng. Quá trình giải quyết vụ án ông B không phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét nội dung khởi kiện của ngân hàng thấy rằng:
Vào ngày 16/4/2016 ông B có ký hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ tín dụng để vay số tiền vốn 131.000.000 đồng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 39.48%/năm. Xét thấy, khi ông B giao dịch ký kết hợp đồng với Ngân hàng là do tự nguyện, nội dung ký kết hợp đồng, lãi suất phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng. Trong quá trình vay ông B đã vi phạm nghĩa vụ theo nội dung hợp đồng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B phải trả số tiền vốn, lãi đến ngày xét xử số tiền 321.526.523 đồng là có căn cứ được chấp nhận.
Ngân hàng yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng kể từ ngày 13/02/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay. Xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với quy định tại Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông B phải chịu án phí tương ứng số tiền phải trả cho Ngân hàng. Ngân hàng không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Buộc ông Lê Bá B phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền vốn và lãi đến ngày 11/3/2026 là 321.526.523 đồng trong đó nợ gốc: 199.873.511 đồng, nợ lãi 121.653.012 đồng.
Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 11/3/2026, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Bá B phải chịu 16.076.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu. Hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền đã nộp tạm ứng là 6.867.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011698 ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 63/2026/DS-ST ngày 11/03/2026
| Số hiệu: | 63/2026/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 11/03/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về