Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 60/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 60/2024/DS-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 29/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 326/2023/TLST–DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-DS ngày 21/3/2024. Giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng H.

Địa chỉ: 25 Bis NTMK, phường BN, Quận 1, Thành phố HCM. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc Th – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – Giám đốc Ngân hàng Chi nhánh HK.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Q Th – Chuyên viên xử lý nợ.

Ông Th có mặt tại phiên toà.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Đội 11, thôn TH, xã NK, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

Ông Q có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng H Chi nhánh HK và ông Nguyễn Hồng Q đã ký Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022. Cụ thể như sau:

+ Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022:

- Hạn mức TTD 150.000.000 đồng.

- Thời hạn vay: 60 tháng.

- Mục đích vay vốn: Thẻ tín dụng.

Kể từ ngày 10/02/2023 đến nay ông Nguyễn Hồng Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H. Do khách hàng vi phạm cam kết thanh toán khoản nợ, Ngân hàng H đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo để ông Q thanh toán khoản nợ theo nội dung cam kết, nhưng ông Q không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng H.

Dư nợ thẻ tín dụng của ông Q tại Ngân hàng H tạm tính đến ngày 15/3/2024 cụ thể như sau:

- Nợ gốc quá hạn: 149.999.000 đồng.

- Nợ lãi: 49.836.653 đồng.

- Phí chậm thanh toán: 84.193.427 đồng.

- Tổng dư nợ: 284.029.080 đồng.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng H, Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Hồng Q phải thanh toán ngay toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/3/2024 là 284.029.080 đồng. Buộc ông Nguyễn Hồng Q phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo quy định trong Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 và các văn bản có liên quan đã ký kết với Ngân hàng H kể từ ngày 16/3/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác và không trình bày gì thêm.

* Bị đơn – ông Nguyễn Hồng Q trình bày:

Ông xác nhận năm 2022 ông có ký khoản vay tại Ngân hàng H số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng bằng hình thức mở thẻ tín dụng, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 30/12/2022. Khoản vay này là khoản vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông chưa trả được khoản vay theo đúng nghĩa vụ thoả thuận trong hợp đồng. Vì lúc vay ông đã sử dụng đầu tư vào làm ăn, nên không có tiền thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình.

Ông xác nhận tính đến nay ông vẫn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng, nợ lãi là 49.836.653 đồng, nợ phí chậm thanh toán là 84.193.427 đồng, tổng cộng là 284.029.080 đồng.

Nay do điều kiện kinh tế khó khăn ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông trả nợ dần, cụ thể mỗi 3 tháng ông trả 10.000.000 đồng cho đến khi trả hết khoản nợ.

Tại phiên tòa:

* Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu khởi kiện. Về lãi suất của khoản vay hai bên thoả thuận theo quy định của Ngân hàng H tại các Quyết định về việc ban hành lãi suất thẻ tín dụng. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông Nguyễn Hồng Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng H đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông Q sang nợ quá hạn kể từ ngày 10/02/2023. Ngân hàng xác định tính đến ngày 15/3/2024 ông Q còn nợ Ngân hàng H tổng số tiền là 284.029.080 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng, tiền nợ lãi là 49.836.653 đồng, tiền nợ phí chậm thanh toán là 84.193.427 đồng.

Đề nghị Toà án buộc ông Q phải trả cho Ngân hàng H số tiền nợ cả gốc, lãi và phí như nêu trên.

Ông Q phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 15/3/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc vay theo lãi suất quy định của Ngân hàng.

* Ông Nguyễn Hồng Q trình bày: Ông xác nhận khoản tiền nợ thẻ tín dụng như Ngân hàng H trình bày là đúng. Tuy nhiên do hiện nay ông đang rất khó khăn về tài chính nên không thể trả nợ ngay toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng được, ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông được trả nợ dần, mỗi quý (03 tháng) ông sẽ trả 10.000.000 đồng cho đến khi trả hết khoản nợ trên cho Ngân hàng.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành tốt pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền nợ tính đến hết ngày 15/3/2024 là:

- Nợ gốc quá hạn: 149.999.000 đồng.

- Nợ lãi: 49.836.653 đồng.

- Phí chậm thanh toán: 84.193.427 đồng.

- Tổng dư nợ: 284.029.080 đồng.

Ông Quag phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 15/3/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc vay theo lãi suất qui định của Ngân hàng H.

- Về án phí: Vụ án áp dụng án phí có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là Ngân hàng H khởi kiện đến Toà án buộc ông Nguyễn Hồng Q trả tiền nợ gốc, nợ lãi và nợ phí theo Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022. Do đó quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Mục đích sử dụng thẻ tín dụng là để thanh toán hàng hoá, dịch vụ, nên xác định đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Đông Anh. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Ngân hàng H khởi kiện đối với ông Nguyễn Hồng Q yêu cầu trả tiền gốc, lãi và phí theo Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ đã ký kết. Vì vậy, xác định Ngân hàng H tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, ông Nguyễn Hồng Q là bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1.1] Đối với yêu cầu trả khoản tiền nợ gốc: Xét thấy việc ký kết Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 giữa Ngân hàng H và ông Nguyễn Hồng Q nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tư cách đại diện tham gia ký kết. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Q với hạn mức giao dịch thanh toán hàng hoá, dịch vụ là 150.000.000 đồng. Hình thức và nội dung Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 phù hợp các qui định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế, Ngân hàng H đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên cho vay, ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Q không có ý kiến phản đối yêu cầu trên của Ngân hàng H. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử khẳng định tính đến ngày 15/3/2024 ông Q còn nợ Ngân hàng H theo Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 số tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng. Do vậy việc Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu ông Q phải thanh toán số tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc ông Q phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 149.999.000 đồng cho Ngân hàng H.

[2.1.2] Đối với yêu cầu trả khoản tiền nợ lãi, phí:

Căn cứ theo các Quyết định về việc ban hành lãi suất thẻ tín dụng H của Ngân hàng H và Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 giữa Ngân hàng H và ông Q thì lãi suất khoản vay của ông Q từ ngày được phát hành thẻ tín dụng được áp dụng mức lãi suất là 24%/tháng, quá trình sử dụng thẻ tín dụng có điều chỉnh lãi suất theo đúng qui định của Ngân hàng H. Từ ngày 10/02/2023 cho đến nay do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản nợ đã chuyển thành nợ quá hạn và được áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm quá.

Đối chiếu với bản sao kê, các Quyết định về việc ban hành lãi suất thẻ tín dụng Ngân hàng H cung cấp thì lãi suất được áp dụng là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất của Ngân hàng H.

Do ông Q vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi nên khoản nợ chuyển thành nợ quá hạn. Tại phiên tòa Ngân hàng H yêu cầu ông Q thanh toán số tiền lãi và tiền phí chậm thanh toán chưa trả tính đến hết ngày 15/3/2024 là: 49.836.653 đồng. Yêu cầu buộc bị đơn thanh toán khoản tiền lãi và phí nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Hồng Q phải thanh toán trả cho Ngân hàng H toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, nợ phí chậm thanh toán theo Đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ ngày 30/12/2022 tạm tính đến ngày 15/3/2024 tổng cộng là 284.029.080 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng, tiền nợ lãi là 49.836.653 đồng, tiền nợ phí chậm thanh toán là 84.193.427 đồng).

Ông Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận với Ngân hàng H đối với khoản tiền nợ gốc chưa trả từ ngày 16/3/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự.

- Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.

- Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26; điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố HCM về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Hồng Q.

2. Buộc ông Nguyễn Hồng Q phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố HCM số tiền nợ tính đến ngày 15/3/2024 tổng cộng cả gốc và lãi là 284.029.080 đồng (Hai trăm tám mươi tư triệu, không trăm hai mươi chín nghìn, không trăm tám mươi đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 149.999.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn đồng), tiền nợ lãi là 49.836.653 đồng (Bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm năm mươi ba đồng), tiền nợ phí chậm thanh toán là 84.193.427 đồng (Tám mươi tư triệu, một trăm chín mươi ba nghìn, bốn trăm hai mươi bẩy đồng).

3. Ông Nguyễn Hồng Q vẫn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận kể từ ngày 16/3/2024, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hồng Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 14.201.454 đồng (Mười bốn triệu, hai trăm linh một nghìn, bốn trăm năm mươi tư đồng).

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố HCM số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.719.541 đồng (Năm triệu, bẩy trăm mười chín nghìn, năm trăm bốn mươi mốt đồng) theo biên lai số 0016958, ký hiệu: BLTU/23 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố HCM và ông Nguyễn Hồng Q có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 60/2024/DS-ST

Số hiệu:60/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về