TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TỈNH QUẢNG TRỊ
BẢN ÁN 53/2026/DS-ST NGÀY 26/06/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2025/TLST- DS ngày 13/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-DS ngày 28/4/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2026/QĐST-TCDS ngày 28/5/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần L (L1). Địa chỉ: LPB T, số B đường T, phường H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quốc K, chức vụ: Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, chức vụ: Giám đốc L1- Chi nhánh Q (thực hiện theo Quyết định số 4135/2025/QĐ-CTHĐQT ngày 21/3/2025 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP L về việc ủy quyền đối với Giám đốc Chi nhánh, Giám đốc Phòng giao dịch. Địa chỉ: Số F T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Trần Duy H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần L – Chi nhánh Q. Địa chỉ: Số F T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị. (Theo giấy ủy quyền số 254/2025/UQ-QB ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Ngân hàng thương mại cổ phần L – Chi nhánh Q). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986 và ông Mai Văn H2, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị, Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện ngày 29/7/2025, được bổ sung tại bản tự khai ngày 23/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày:
Ngày 05/12/2023, L1 đã ký Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 với bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tổng số tiền cấp tín dụng là 4.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ đồng chẵn). Ngày 06/10/2023, L1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 số tiền là: 4.000.000.000 đồng. Tổng số tiền L1 đã giải ngân bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 theo Hợp đồng tín dụng HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 tổng số tiền là 4.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ đồng chẵn) theo đúng yêu cầu của bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 và phù hợp với Hợp đồng tín dụng. Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Thời hạn cho vay: 240 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân đầu tiên là ngày 06/12/2023 đến hết ngày 06/12/2043. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm nội thất, trang trang trí thiết bị tại nhà. Lãi suất cho vay: 10,7%/năm trong 03 tháng đầu tiên kể từ ngày bên vay bắt đầu nhận nợ, sau đó điều chỉnh lãi suất theo định kỳ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm. Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc định kỳ hàng tháng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng; Trả nợ lãi vào ngày cuối cùng mỗi tháng theo dư nợ thực tế, bắt đầu trả nợ lãi từ tháng 12/2023. Khoản vay được giải ngân bằng hình thức tiền mặt: bà H1 và ông H2 đã nhận số tiền 4.00.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 06/12/2023.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng tín dụng nêu trên, bà H1 và ông H2 đã thế chấp các tài sản:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 843, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 418594 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/07/2020, số vào số cấp GCN: CH03094, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 14/08/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H3 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC4502021078 ngày 15/04/2021, số công chứng 1492, quyền số 02/2021 TP/CC- SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/04/2021.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 379, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 700901 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/03/2014, số vào sổ cấp GCN: CH00666, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 24/03/2017; ngày 08/06/2020 và ngày 19/06/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công 02 chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 22/04/2021.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 576, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 644189 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 27/02/2018, số vào sổ cấp GCN: CH01640, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2020 và ngày 19/04/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022, số công chứng 2159, quyển số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Quảng Bình, địa chỉ số G đường Q, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình ngày 21/04/2022. (Chi tiết xem theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022) và tài sản đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 493, tờ bản đồ số 15 (6QH) tại địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 315871 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 20/05/2022, số vào sổ cấp GCN: CS 00928, đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502023142 ngày 28/11/2023, số công chứng 5335, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Quảng Trị, địa chỉ số I đường T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị ngày 28/11/2023.
* Thực hiện Hợp đồng tín dụng:
Thực hiện đúng theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết ở trên, L1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 tổng số tiền 4.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ đồng chẵn). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ phát sinh. Các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 31/05/2024. L1 đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần để bà Nguyễn Thị H3 và ông Mai Văn H2 trả nợ nhưng bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và theo các quy định của pháp luật.
Tính đến ngày 26/6/2026, bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 mới chỉ thanh toán cho L1 số tiền lãi là 70.181.998 đồng và còn nợ L1 số tiền là 5.262.507.980 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ hai trăm sáu mươi hai triệu năm trăm linh bảy nghìn chín trăm tám mươi đồng), bao gồm: Nợ gốc: 4.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.100.626.525 đồng, nợ lãi quá hạn: 161.881.455 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 để yêu cầu trả nợ nhưng bên vay không thực hiện và cố tình chây ì không hợp tác. L1 đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng theo đúng quy định.
Trên cơ sở những nội dung đã trình bày trên Ngân hàng thương mại cổ phần L kính đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị thụ lý vụ án và xem xét giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn: Buộc bên vay là bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng cùng Khế ước nhận nợ đính kèm đã ký giữa hai bên với số tiền tính đến hết ngày 26/6/2026 là 5.262.507.980 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ hai trăm sáu mươi hai triệu năm trăm linh bảy nghìn chín trăm tám mươi đồng), bao gồm: Nợ gốc: 4.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.100.626.525 đồng, nợ lãi quá hạn: 161.881455 đồng.
Buộc Bên vay là bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L số tiền nợ lãi, tiền phạt phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 26/6/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Nếu bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên cho L1, thì đề nghị Tòa án tuyên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2, tài sản bảo đảm là:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 843, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 418594 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/07/2020, số vào số cấp GCN: CH03094, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 14/08/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC4502021078 ngày 15/04/2021, số công chứng 1492, quyền số 02/2021 TP/CC- SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/04/2021.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 379, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 700901 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/03/2014, số vào sổ cấp GCN: CH00666, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 24/03/2017; ngày 08/06/2020 và ngày 19/06/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H3 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công 02 chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thi trấn Quán Hàu, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 22/04/2021.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 576, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 644189 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 27/02/2018, số vào sổ cấp GCN: CH01640, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2020 và ngày 19/04/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H3 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022, số công chứng 2159, quyển số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Quảng Bình, địa chỉ số G đường Q, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình ngày 21/04/2022. (Chi tiết xem theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022) và tài sản đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 493, tờ bản đồ số 15 (6QH) tại địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 315871 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 20/05/2022, số vào sổ cấp GCN: CS 00928, đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502023142 ngày 28/11/2023, số công chứng 5335, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Quảng Trị, địa chỉ số I đường T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị ngày 28/11/2023.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 đối với L1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho L1.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Vợ chồng bà có ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng L vào ngày 05/12/2023 để vay vốn số tiền 4.000.000.000 đồng với các nội dung và lãi suất, thời hạn vay như hợp đồng đã ký kết, ngân hàng đã giải ngân đủ cho vợ chồng bà. Để đảm bảo khoản vay vợ chồng bà đã thế chấp 03 thửa đất là thửa đất số 843, 379, 576 tờ bản đồ số 8 tại thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị và thửa đất số 493 tờ bản đồ số 15 tại thôn Đ, xã V, tỉnh Quảng Trị. Vợ chồng bà luôn nghiêm túc để thanh toán khoản nợ. Đến tháng 5/2024 gia đình bà làm ăn thất thoát, khó khăn nên không đủ điều kiện để trả lãi ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện vợ chồng bà, bà xin ngân hàng tạo điều kiện cho vợ chồng bà thêm thời gian để sắp xếp trả nợ đầy đủ. Hiện nay chồng bà đang đi biển xa vẫn biết được sự việc ngân hàng khởi kiện, nhưng chưa vào kịp nên chưa sắp xếp thời gian lên Tòa án được, chúng tôi sẽ cố gắng sắp xếp để có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Bị đơn ông Mai Văn H2 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng không có mặt để trình bày ý kiến về việc Ngân hàng thương mại cổ phần L khởi kiện. Do đó, Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh và niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tổ chức hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên bị đơn không đến phiên tòa nên không hòa giải và giải quyết toàn bộ vụ án nên việc hòa giải không thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Trị phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: Phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 117,118, 119, 292, 293, 298, 299, 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L. Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 26/6/2026 số tiền là 5.262.507.980 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu mươi hai triệu năm trăm linh bảy nghìn chín trăm tám mươi đồng), bao gồm nợ gốc 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), nợ lãi trong hạn 1.100.626.525 đồng (Một tỷ một trăm triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn 161.881.455 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L thì Ngân hàng thương mại cổ phần L có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp chấp theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC4502021078 ngày 15/04/2021, số công chứng 1492, quyền số 02/2021 TP/CC- SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/04/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thi trấn Quán Hàu, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 22/04/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022, số công chứng 2159, quyển số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Quảng Bình, địa chỉ số G đường Q, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình ngày 21/04/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502023142 ngày 28/11/2023, số công chứng 5335, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Quảng Trị, địa chỉ số I đường T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần L khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã N, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Q.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nguyên đơn đã đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án. Đối với bị đơn ông Mai Văn H2 không đến Tòa án làm bản tự khai cũng như vắng mặt tại các lần Tòa án triệu tập sau đó. Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập qua đường bưu điện, niêm yết và trực tiếp giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 vẫn cố tình vắng mặt tại các buổi làm việc do Tòa án triệu tập. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2, cả hai người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị. Hiện nay, bà Nguyễn Thị H4 có mặt tại địa phương ông Mai Văn H2 không có mặt tại địa phương.
Toà án thông báo cho các bên đương sự đến để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chỉ có nguyên đơn có mặt còn bị đơn vắng mặt không có lý do nên Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-TCDS ngày 28/4/2026 và tống đạt đến bà H1, ông H2. Ngày 28/5/2026, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên bị đơn bà H1, ông H2 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2026/QĐST-TCDS ngày 28/5/2026 và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 26/6/2026 đồng thời tiến hành thủ tục niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng tại thôn T, xã N và trụ sở UBND xã N - nơi bị đơn cư trú. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2.
[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ điều tra xác minh và thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp. Tại phiên tòa hôm nay có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023. Nhận thấy bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 và Ngân hàng thương mại cổ phần L - Chi nhánh Q đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 số dư nợ ban đầu: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), mục đích vay vốn: Thanh toán mua sắm nội thất trang thiết bị. Thời hạn cho vay: 240 tháng. Lãi suất cho vay từ 10,7%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150%/năm là hoàn tự nguyện. Về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đúng với quy định tại Điều 117, 119, 385, 405, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng 2024. Vì vậy, Hợp đồng tín dụng có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.
[2.2] Xét về lãi suất: Lãi suất gồm lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân: 10,7%/năm; Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; các thỏa thuận về lãi suất trên là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 101, 103 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần L - Chi nhánh Q đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023, số tiền giải ngân: 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng chẵn).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ phát sinh. Các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 31/05/2024. L1 đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần để bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 trả nợ nhưng bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và theo các quy định của pháp luật, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, bị đơn đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H1, ông H2 trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 nợ là có cơ sở. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L, tính đến ngày 26/6/2026 số tiền là 5.262.507.980 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu mươi hai triệu năm trăm linh bốn nghìn chín trăm tám mươi đồng), bao gồm nợ gốc 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), nợ lãi trong hạn 1.100.626.525 đồng (Một tỷ một trăm triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn 161.881.455 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm mười ba đồng), nợ lãi chậm trả lãi 25.507.744 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm linh bảy nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 27/6/2025 cho đến ngày bà H1, ông H2 thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
[3]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC4502021078 ngày 15/04/2021, số công chứng 1492, quyền số 02/2021 TP/CC- SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/04/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thi trấn Quán Hàu, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 22/04/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022, số công chứng 2159, quyển số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Quảng Bình, địa chỉ số G đường Q, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình ngày 21/04/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502023142 ngày 28/11/2023, số công chứng 5335, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Quảng Trị, địa chỉ số I đường T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị.
Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.
Các tài sản thế chấp đều phù hợp với Hợp đồng thế chấp.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 379, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 700901 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/03/2014, số vào sổ cấp GCN: CH00666, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 24/03/2017; ngày 08/06/2020 và ngày 19/06/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2.
Kết quả thẩm định là thửa đất số 422 tờ bản đồ số 8 (nay là thửa đất số 422, tờ bản đồ số 104) xã N, tỉnh Quảng Trị.
Ý kiến của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực VII tỉnh Q.
Ngày 17/6/2026 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực VII tỉnh Q trả lời Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 700901 do UBND huyện Q cấp ngày 28/03/2014 mang tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 tại thửa đất số 379, tờ bản đồ số 8 thuộc bản đồ địa chính được sở T phê duyệt ngày 20/11/2007, tương ứng với thửa số 422 và một phần thửa đất số 214 tờ bản đồ số 8 thuộc bản đồ địa chính được sở T phê duyệt ngày 03/6/2020.
Thửa đất số 379, tờ bản đồ số 8 thuộc bản đồ địa chính được sở T phê duyệt ngày 03/6/2020, theo Giấy chứng nhận số DN 357932 mang tên ông Nguyễn Anh H5 và bà Chử Thị Thu H6 không liên quan đến thửa đất ông Mai Văn H2 và bà Nguyễn Thị H1 đang thế chấp tại ngân hàng.
Vì vậy, trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023. Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319 của Bộ luật dân sự; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản bảo đảm theo các hợp đồng thế chấp mà các bên ký kết.
[4]. Về chí phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đăng tin thông báo trên kênh của Ban đối ngoại VOV5 bị đơn phải chịu. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí, nên cần buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 474, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 117,118, 119, 292, 293, 298, 299, 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần L. Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L đến ngày 26/6/2026 số tiền là 5.262.507.980 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu mươi hai triệu năm trăm linh bảy nghìn chín trăm tám mươi đồng), bao gồm nợ gốc 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), nợ lãi trong hạn 1.100.626.525 đồng (Một tỷ một trăm triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn 161.881.455 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng) theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng số HĐTD4502023464 ngày 05/12/2023 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4502023464 ngày 06/12/2023 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2.Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần L thì Ngân hàng thương mại cổ phần L có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp gồm:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 843, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Nay là thửa đất số 843, tờ bản đồ số 104 tại thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 418594 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/07/2020, số vào số cấp GCN: CH03094, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 14/08/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H3 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC4502021078 ngày 15/04/2021, số công chứng 1492, quyền số 02/2021 TP/CC- SCC/HĐGD đã được công chứng tại
Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 379, tờ bản đồ số 8 (Nay là thửa đất số 422, tờ bản đồ số 104) tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Nay là thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 700901 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/03/2014, số vào sổ cấp GCN: CH00666, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 24/03/2017; ngày 08/06/2020 và ngày 19/06/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502021086 ngày 22/04/2021, số công chứng 1611, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ số A đường Q, thi trấn Quán Hàu, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 576, tờ bản đồ số 8 tại địa chỉ thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Nay là thửa đất số 576, tờ bản đồ số 104 tại địa chỉ: thôn C, xã N, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 644189 do UBND huyện Q - tỉnh Quảng Bình cấp ngày 27/02/2018, số vào sổ cấp GCN: CH01640, được chỉnh lý thay đổi nội dung ngày 10/03/2020 và ngày 19/04/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502022156 ngày 21/04/2022, số công chứng 2159, quyển số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Phòng C2 tỉnh Quảng Bình, địa chỉ số G đường Q, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình ngày 21/04/2022.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất tại thửa đất 493, tờ bản đồ số 15 (6QH) tại địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. (Nay là tờ bản đồ số 161 của xã V, tình Q) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 315871 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 20/05/2022, số vào sổ cấp GCN: CS 00928, đứng tên bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2. Tài sản trên được bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 thế chấp tại L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC4502023142 ngày 28/11/2023, số công chứng 5335, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Quảng Trị, địa chỉ số I đường T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị.
3.Về chi phí tố tụng: Xử buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 phải hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần L số tiền 12.420.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và số tiền 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí đăng tin thông báo trên kênh của Ban đối ngoại VOV5. Tổng cộng là 14.670.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
4.Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Mai Văn H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 113.262.507 đồng (Một trăm mười ba triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm linh bảy đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần L được nhận lại số tiền 36.318.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000764 ngày 13/10/2025.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án, ông Mai Văn H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án .
6.Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 53/2026/DS-ST ngày 26/06/2026
| Số hiệu: | 53/2026/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Đông Hà - Quảng Trị |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 26/06/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về