Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 47/2025/DS-ST ngày 14/10/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 47/2025/DS-ST NGÀY 14/10/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A); địa chỉ: Số B đường L, phường G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật T - Giám đốc A - Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi; địa chỉ: Số A đường Đ, tổ dân phố F, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi (theo Quyết định ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1993, bà Đào Thị Kim L, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: Tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi). Ông T1 vắng mặt; bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/02/2025, các văn bản trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng N trình bày:

Ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi theo hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024; số tiền vay là 2.650.000.000 đồng; mục đích vay là mua rừng keo lai để chăm sóc và khai thác; thời hạn cho vay là 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng đến ngày 10/01/2025; lãi suất cho vay tại thời điểm ký hồ sơ vay vốn là 6%/năm và áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh.

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L đã thế chấp cho Ngân hàng N quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi), đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 585027, số vào sổ: CS.02194 ngày 03/02/2023 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023, kèm theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L đã trả cho Ngân hàng N 300.000.000 đồng nợ gốc và 51.402.740đồng nợ lãi. Kể từ ngày 06/11/2024 đến nay, ông T1 và bà L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tạm tính đến ngày 14/10/2025, ông T1 và bà L còn nợ Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi là 2.538.102.837 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.350.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 132.501.370đồng; nợ lãi quá hạn là 53.695.890 đồng; nợ lãi chậm trả là 1.905.577 đồng. Do đó, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền gốc và lãi còn nợ như đã nêu trên và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/10/2025 cho đến khi ông T1 và bà L trả hết nợ.

- Trường hợp ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp cho khoản vay để thu hồi nợ.

- Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đào Thị Kim L và ông Trần Minh T1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng N.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2025, bị đơn bà Đào Thị Kim L trình bày:

Vợ chồng bà có vay số tiền 2.650.000.000 đồng tại Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi theo hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, vợ chồng bà đã thế chấp cho Ngân hàng N quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023, kèm theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023. Từ khi vay tiền đến nay, vợ chồng bà đã trả cho Ngân hàng 300.000.000 đồng tiền nợ gốc và trả tiền lãi nhiều lần nhưng không nhớ chính xác bao nhiêu.

Nay Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 2.389.767.873 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.350.000.000 đồng; nợ lãi là 39.767.873 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/02/2025 cho đến khi trả hết nợ; trường hợp vợ chồng bà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp cho khoản vay để thu hồi nợ thì vợ chồng bà đồng ý.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Minh T1 nhưng ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/10/2025) là 2.538.102.837 đồng và phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh cho đến khi trả xong các khoản nợ cho Ngân hàng N.

Trường hợp ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023; hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023.

Các đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Khi xác lập hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi thì ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L có nơi cư trú tại tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi). Tuy nhiên, tại thời điểm Ngân hàng N khởi kiện thì ông T1 và bà L không có mặt tại địa phương. Việc ông T1 và bà L thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng N biết là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.3] Ngày 01/7/2025 Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi được thành lập. Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi kế thừa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi đối với 13 đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi, trong đó có phường Đ (được nhập từ các phường N, P, Phổ M, Phổ V1 và Phổ H cũ). Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi tiếp tục giải quyết vụ án nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.4] Bị đơn ông Trần Minh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; bị đơn bà Đào Thị Kim L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và ý kiến trình bày của nguyên đơn và bị đơn bà Đào Thị Kim L trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ xác định: Ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L có ký kết hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024 với Ngân hàng N - Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi để vay số tiền 2.650.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng nêu trên được các bên tự nguyện ký kết, nội dung của hợp đồng tín dụng nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp. Ngày 11/7/2024 Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi đã giải ngân cho ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L nhận đủ số tiền vay 2.650.000.000 đồng (thể hiện tại phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 11/7/2024).

[2.2] Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên thì ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L đã trả cho Ngân hàng N 300.000.000 đồng nợ gốc và 51.402.740 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 06/11/2024 đến nay, ông T1 và bà L bỏ đi khỏi địa phương mà không báo cho Ngân hàng biết và không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N. Việc ông T1 và bà L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N là vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã ký kết với Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi tại hợp đồng tín dụng số 4508-LAV- 202401104 ngày 10/7/2024, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng N.

[2.3] Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/10/2025), ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L còn nợ Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi là 2.538.102.837 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.350.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 132.501.370đồng; nợ lãi quá hạn là 53.695.890 đồng; nợ lãi chậm trả là 1.905.577 đồng. Do đó, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ, phù hợp với những nội dung các bên đã thoả thuận tại hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 11/7/2024, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp và phù hợp với quy định tại các điều 100 và 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Xét yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L đã thế chấp cho Ngân hàng N quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi), đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 585027, số vào sổ: CS.02194 ngày 03/02/2023 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023).

[2.5] Hợp đồng thế chấp và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp nêu trên được các bên tự nguyện ký kết; nội dung thoả thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật; các hợp đồng nêu trên đã được công chứng hợp pháp và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên đã phát sinh hiệu lực tại thời điểm đăng ký.

[2.6] Tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023, ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L đồng ý đem tài sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, các khoản phí và chi phí khác phát sinh liên quan của ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L tại các hợp đồng tín dụng ký trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng này với Ngân hàng N – Chi nhánh Đ, Quảng Ngãi.

[2.7] Tại Điều 8 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023, các bên thỏa thuận: “Khi xảy ra một trong các trường hợp dưới đây, bên A được quyền thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ mà không phụ thuộc vào sự đồng ý của bên B và/hoặc vào bất kỳ điều kiện nào:

a) Đến hạn thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng cấp tín dụng mà bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

[2.8] Do đó, trường hợp ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023 để thu hồi nợ.

[3] Về chi phí tố tụng: Ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải chịu 7.000.000 đồng chi phí tố tụng (gồm: 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và 5.000.000 đồng chi phí đo đạc). Ngân hàng N đã nộp 7.000.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng và đã chi xong nên ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng N số tiền 7.000.000 đồng.

[4] Về án phí:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là: 72.000.000 đồng + (2% x 538.102.837 đồng) = 82.762.000 đồng.

Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 39.897.000đồng.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, các điều 144, 147, 157, 158, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 317, 318, 319, 320, 322, 323, 325, 299 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

2. Buộc ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/10/2025) là 2.538.102.837đồng (hai tỷ năm trăm ba mươi tám triệu một trăm linh hai nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng, trong đó:

- Nợ gốc là 2.350.000.000 đồng (hai tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng);

- Nợ lãi trong hạn là 132.501.370 đồng (một trăm ba mươi hai triệu năm trăm linh một nghìn ba trăm bảy mươi đồng);

- Nợ lãi quá hạn là 53.695.890 đồng (năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng);

- Nợ lãi chậm trả là 1.905.577 đồng (một triệu chín trăm linh năm nghìn năm trăm bảy mươi bảy đồng).

3. Kể từ ngày 15/10/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-202401104 ngày 10/7/2024.

4. Trường hợp ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 470, tờ bản đồ số 5, tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi) theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC ngày 14/02/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 20230014/HĐTC/PL01 ngày 06/12/2023.

5. Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

6. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) chi phí tố tụng. Ngân hàng N đã nộp 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) tạm ứng chi phí tố tụng và đã chi xong nên ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng N 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

7. Về án phí: Ông Trần Minh T1 và bà Đào Thị Kim L phải chịu 82.762.000 đồng (tám mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 39.897.000 đồng (bằng chữ: Ba mươi chín triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004746 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Quảng Ngãi).

8. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

9. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 47/2025/DS-ST ngày 14/10/2025

Số hiệu:47/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/10/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về