Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 38/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 38/2024/DS-ST NGÀY 04/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B N, Phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Vĩnh H, chức vụ: Phó phòng – Phòng S; Địa chỉ: A Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đ, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Nông Văn Ư, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh Đ, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 25/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Vĩnh H trình bày:

Vào ngày 05/9/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết với ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V (bị đơn) Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019 vay với số tiền là 200.000.000 đồng; mục đích sử dụng sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay 36 tháng, ngày đáo hạn: ngày 05/9/2022. Lãi suất theo quy định tại từng thời điểm giải ngân.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bị đơn ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 0640/2019/TC/CK ngày 05/9/2019. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 05/9/2019 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Đ, thế chấp tài sản sau:

Quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số O 405826 do UBND huyện K cấp ngày 18/7/1998 mang tên hộ ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V gồm các thửa đất số 411, 409, 408, 407, 406, 404, 402, 232, 233, 231, 412, cùng tờ bản đồ số 17; Địa chỉ thửa đất tại: Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh Đ.

Quá trình vay thì bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng số tiền gốc là 25.000.000 đồng và lãi là 633 đồng, còn nợ lại tiền gốc 175.000.000 đồng.

Đến thời hạn trả nợ nhưng bị đơn vẫn chưa thanh toán số nợ gốc cho Ngân hàng và đã vi phạm hợp đồng nêu trên. Tính đến ngày 04/9/2024, bị đơn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 261.110.614 đồng, trong đó tiền gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính tới ngày 04/9/2024 là 86.110.614 đồng. Ngân hàng đã liên tục nhắc nhở, đôn đốc nhưng bị đơn vẫn không thanh toán khoản vay trên cho Ngân hàng, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

1. Buộc ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V phải trả cho Ngân hàng số tiền vay theo Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019 với tổng số tiền là 261.110.614 đồng, trong đó tiền gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính tới ngày 04/9/2024 là 86.110.614 đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi suất từ ngày 05/9/2024 cho đến khi ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V trả nợ xong cho Ngân hàng.

2. Nếu ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V không trả nợ cho Ngân hàng, thì đề nghị Tòa án tuyên Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 0640/2019/TC/CK ngày 05/9/2019 để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng trong trường hợp ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V không thanh toán số nợ trên. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay trên.

* Đối với bị đơn ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để thông báo cho ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V tham gia tố tụng nhưng ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 299, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền gốc là 175.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019, trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0640/2019/TC/CK ngày 05/9/2019 đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V phải trả số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019 nên đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn cư trú tại Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý và xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Về nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019, thì bị đơn ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V vay của nguyên đơn số tiền gốc là 200.000.000 đồng; mục đích sử dụng sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay 36 tháng, ngày đáo hạn: ngày 05/9/2022. Lãi suất theo quy định tại từng thời điểm giải ngân. Ni dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc là 25.000.000 đồng và lãi là 633 đồng, còn nợ lại tiền gốc 175.000.000 đồng và cho đến nay chưa trả được số tiền nào cho Ngân hàng. Dư nợ tính đến ngày 04/9/2024 là 261.110.614 đồng, trong đó tiền gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi là 86.110.614 đồng. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo nội dung hợp đồng tín dụng, đã xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc.

[3] Về nợ lãi: Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó tính đến ngày 04/9/2024 ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền lãi theo Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019 là 86.110.614 đồng.

[4] Về biện pháp bảo đảm: Ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V có thế chấp cho nguyên đơn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp số 0640/2019/TC/CK ngày 05/9/2019 tài sản thế chấp là:

- Quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số O 405826 do UBND huyện K cấp ngày 18/7/1998 mang tên hộ ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V gồm các thửa đất số 411, 409, 408, 407, 406, 404, 402, 232, 233, 231, 412, cùng tờ bản đồ số 17; Địa chỉ thửa đất tại: Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh Đ.

Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C theo quy định tại Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Do đó, trong trường hợp ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là có căn cứ và cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này là phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với mức 261.110.614 đồng x 5% = 13.056.000 đồng (đã làm tròn) theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

các Điều 144, 147, 157, 227, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 299, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

1. Buộc ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 261.110.614 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu, một trăm mười nghìn, sáu trăm mười bốn đồng), trong đó: tổng số tiền gốc là 175.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 04/9/2024 là 86.110.614 đồng (T mươi sáu triệu, một trăm mười nghìn, sáu trăm mười bốn đồng).

Kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay số LD1924000864 ngày 05/9/2019.

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần S có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp cho ông Nông Văn Ư, bà Hoàng Thị V sau khi ông Nông Văn Ư, bà Hoàng Thị V trả hết nợ. Nếu ông Nông Văn Ư, bà Hoàng Thị V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số 0640/2019/TC/CK ngày 05/9/2019 tài sản thế chấp là:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 405826 do UBND huyện K cấp ngày 18/7/1998 mang tên hộ ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V gồm các thửa đất số 411, 409, 408, 407, 406, 404, 402, 232, 233, 231, 412, cùng tờ bản đồ số 17; Địa chỉ thửa đất tại: Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh Đ.

3. Về chi phí tố tụng: Ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.

4. Về án phí: Ông Nông Văn Ư và bà Hoàng Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.056.000 đồng (Mười ba triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.211.792 đồng (Sáu triệu, hai trăm mười một nghìn, bảy trăm chín mươi hai đồng) theo biên lai số AA/2023/0006586 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 38/2024/DS-ST

Số hiệu:38/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Kuin - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về