TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 3465/2023/KDTM-ST NGÀY 05/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 190/2023/TLST-KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5208/2022/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2023 v Quyết định hoãn phiên tòa số 5025/QĐST –KDTM ngày 10/8/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V Trụ sở: A Láng Hạ, phường B, quận C, Thành phố H Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu M, ông Nguyễn Thế A l người đại diện theo văn bản ủy quyền số 33301/2023/UQ-PGD ngày 18/4/2023; (có mặt).
Bị đơn: Công ty trách hữu hạn Q Trụ sở: A Đường số B, khu phố C, phường Linh Xuân, thành phố D, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lại Văn C, sinh năm 1983 Địa chỉ: A Đường số B, khu phố C, phường Linh Xuân, thành phố D, thành phố H. (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lại Văn C, sinh năm 1983 Địa chỉ: A Đường số B, khu phố C, phường Linh Xuân, thành phố D, thành phố H. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 18/10/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (gọi tắt l Ngân hàng) và Công ty TNHH Quốc tế Việt Nam KOREA (gọi tắt l công ty Korea) có ký Hợp đồng tín dụng số Q11/21249 vay số tiền 447.600.000 đồng, thời hạn 71 tháng, lãi suất 8,4%/năm, thay đổi 01 tháng/lần; mục đích vay mua xe. Tài sản đảm bảo l 01 xe ô tô hiệu Ford biển số 51D-xxxxx theo hợp đồng số Q11/21250 ngày 18/10 2021 đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/10/2021, người bảo lãnh ông Lại Văn C theo Hợp đồng số Q11/21249/HDBL-01 ngày 18/10/2021.
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định:
Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã được giải ngân đủ số tiền theo Giấy nhận nợ số Q11: 21249-01 ngày 18/10/2021. Tuy nhiên, quá trình vay bị đơn mới chỉ thanh toán được số tiền vốn 110.040.868 đồng. Sau đó vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi mặc dù Ngân hàng đã thông báo nhiều lần.
Do vậy, yêu cầu công ty Korea phải thanh toán ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 05/9/2023 là 410.586.390 đồng, trong đó nợ gốc l 400.400.335 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.186.055 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, công ty Korea vẫn phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
Từ ngày 06/9/2023 nếu công ty Korea vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp m vẫn không đủ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Lại Văn C có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ vay theo hợp đồng bảo lãnh.
Quá trình tố tụng bị đơn v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đ ng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử v nguyên đơn chấp hành đ ng quy định của pháp luật.
Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tụng tố tụng: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ quan hệ hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có trụ sở hoạt động chính trên địa b n thành phố D, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, Thành phố H.
Bị đơn có đại diện theo pháp luật v cũng chính l người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lại Văn C vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
[2] Về nội dung:
Xét về hình thức Hợp đồng tín dụng v các văn bản thế chấp giữa hai bên được lập bằng văn bản về xác lập hoàn toàn tự nguyện l phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Hợp đồng tín dụng số Q11/21249 vay số tiền 557.600.000 đồng, thời hạn 71 tháng, lãi suất 8,4%/năm, thay đổi 01 tháng/lần; mục đích vay mua xe. Tài sản đảm bảo l 01 xe ô tô hiệu Ford biển số 51D-xxxxx theo hợp đồng thế chấp số Q11/21250 ngày 18/10/2021 đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/10/2021. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã được giải ngân đủ số tiền theo Giấy nhận nợ số Q11: 21249-01 ngày 18/10/2021. Tuy nhiên, quá trình vay bị đơn mới chỉ thanh toán được số tiền vốn 157.199.665 đồng v đến ngày 10/7/2023 trả thêm được 47.158.192 đồng tiền vốn, 39.510.862 đồng tiền lãi. Sau đó tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả vốn v lãi mặc dù Ngân hàng đã thông báo nhiều lần.
Do vậy, yêu cầu công ty Korea phải thanh toán ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 05/9/2023 là 410.586.390 đồng, trong đó nợ gốc l 400.400.335 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.186.055 đồng. Lãi suất hai bên thỏa thuận l phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Xét Hợp đồng bảo lãnh số: Q11/21249/HDBL-01 ngày 18/10/2021 ký kết giữa bên bảo lãnh ông Lại Văn C, bên được bảo lãnh l công ty Korea là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại Điều 335 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì bên được bảo lãnh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do vậy bên bảo lãnh phải có trách thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với toàn bộ nghĩa vụ trả nợ nói trên của bị đơn.
Do bị đơn v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ v hòa giải, không gửi văn bản hay giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan đến giao dịch vay tiền v việc bảo lãnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định bị đơn có vay tiền v đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Về án phí và lệ phí tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 266 , Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 v Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Điều 335, 336, 342, 463 v 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật phí v lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với Công ty trách hữu hạn Q Buộc Công ty trách hữu hạn Quốc tế Việt Nam KOREA có nghĩa vụ thanh toán ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 410.586.390 đồng, (trong đó tiền nợ gốc l 400.400.335 đồng v nợ lãi l 10.186.055 đồng).
Công ty trách hữu hạn Quốc tế Việt Nam KOREA còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi quá hạn phát sinh tương ứng với số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất m các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng v khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trong trường hợp Công ty TNHH Quốc tế Việt Nam KOREA không thanh toán hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì buộc bên bảo lãnh ông Lại Văn C phải có trách thanh toán toàn bộ số nợ nói trên. Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Lại Văn C để xử lý thu hồi nợ.
2. Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 20.423.456 đồng buộc Công ty TNHH Quốc tế Việt Nam KOREA phải nộp theo quy định.
Trả lại ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 11.349.079 đồng, theo biên lai thu số 0003672 ngày 02/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố D, Thành phố H.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 3465/2023/KDTM-ST
| Số hiệu: | 3465/2023/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân TP. Thủ Đức - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 05/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về