TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 30/2023/KDTM-ST NGÀY 12/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2022/TLST-KDTM ngày 25 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1247/2023/QĐ-ST ngày 03/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1378/2023/QĐ-ST-KDTM ngày 22/8/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Trụ sở: Tầng H, 266 - B N, phường H, quận C, Tp ...
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Hoàng Minh H - sinh năm 1990; Địa chỉ: Số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo quyết định ủy quyền số 1798/2022/QĐ-PL ngày 20/7/2022 và quyết định ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022). (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH X. (vắng mặt) Trụ sở: C N, ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh H1 - Chức vụ: Giám đốc.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn Đ - sinh năm 1956 - Bà Võ Thị G - sinh năm 1957 - Ông Phạm Thanh H1 - sinh năm 1984 Cùng địa chỉ: A ấp B. xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Kim D1 - sinh năm 1986 Địa chỉ: C N, ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2022 và các biên bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ủy quyền cho ông Hoàng Minh H trình bày:
Ngày 10/07/2020 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh Q có ký Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 với Công ty TNHH X cấp tín dụng vay số tiền 8.000.000.000 đồng, mục đích cho vay bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất trong hạn được điều chỉnh theo Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng tính từ ngày 10/07/2020 đến ngày 10/07/2021 theo lần nhận nợ các giấy nhận nợ sau: Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 30/11/2021 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 01/12/2021 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 04/12/2021 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 08/01/2022 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 08/01/2022 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 08/01/2022 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 08/01/2022 trả nợ; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn 06 tháng tức ngày 08/01/2022 trả nợ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TNHH X không trả nợ gốc, chi trả lãi được tháng 7 và tháng 8 năm 2021 số tiền lãi 69.949.155 đồng, do đó dư nợ của khoản vay tính đến ngày 12/9/2023 như sau: Nợ gốc: 8.000.000.000 đồng; Lãi là: 1.651.132.852 đồng; Tổng cộng khoản vay: 9.651.132.582 đồng.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Phạm Văn Đ và bà Võ Thị G dùng tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng thửa đất 751, 752 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành B0 375384 số vào sổ cấp GCN CH02765 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 03/07/2013. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 007221 quyển số 07TP/CC- SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 được công chứng tại Phòng C, TP . và đã đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 13/7/2020 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Phạm Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Kim D1 dùng tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng thửa đất 140 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành BY 383782 số vào sổ cấp GCN CH03707 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 13/03/2015. Tài sản này được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 007220 quyển số 07TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 được công chứng tại Phòng C, TP . và đã đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 13/7/2020 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH X như sau:
1. Công ty TNHH X phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng cộng số tiền tạm tính là 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi là 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023) theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021. Đồng thời Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 13/9/2023 trên số dự nợ thực nợ cho đến khi thực trả hết nợ với mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn và mức lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ của Công ty TNHH X thì Công ty TNHH X vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Bị đơn Công ty TNHH X không có phần trình bày do bị đơn không đến Tòa án tiến hành các thủ tục tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nghe xét xử vụ án. Mặc dù đã tiến hành thủ tục tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ; bà Võ Thị G; ông Phạm Thanh H1; bà Nguyễn Thị Kim D1 không có phần trình bày do bị đơn không đến Tòa án tiến hành các thủ tục tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nghe xét xử vụ án. Mặc dù đã tiến hành thủ tục tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn Công ty TNHH X thanh toán khoản tiền còn nợ 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi là 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023), đồng thời tiếp tục tính lãi từ ngày 13/9/2023 trên số dự nợ thực nợ cho đến khi thực trả hết nợ với mức lãi suất trong các hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận. Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện đúng thời hạn trả nợ và số tiền trả nợ cho Ngân hàng nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ; bà Võ Thị G; ông Phạm Thanh H1; bà Nguyễn Thị Kim D1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH X thanh toán khoản tiền còn nợ 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi là 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023) theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021. Hợp đồng tín dụng có mục đích cho vay mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh như vậy hợp đồng tín dụng đã ký là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Mặc khác Công ty TNHH X tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ; bà Võ Thị G; ông Phạm Thanh H1; bà Nguyễn Thị Kim D1 nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn không đến, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ; bà Võ Thị G; ông Phạm Thanh H1; bà Nguyễn Thị Kim D1.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Công ty TNHH X phải trả số tiền là 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi là 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023) theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các giấy nhận nợ.
[2.1] Xét Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021 có đủ cơ sở kết luận Công ty TNHH X có vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 8.000.000.000 đồng có lãi suất thỏa thuận cho vay trong hạn được điều chỉnh theo từng thời kỳ của Ngân hàng P Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và và Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước đối với khách hàng.
[2.2] Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định bị đơn Công ty TNHH X vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021 nhưng Công ty TNHH X không trả nợ gốc, chỉ trả lãi được tháng 7 và tháng 8 năm 2021 số tiền lãi 69.949.155 đồng là vi phạm nghĩa vụ bên vay của hợp đồng tín dụng theo quy định Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”. Do đó căn cứ bảng kê tính lãi chi tiết của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Công ty TNHH X phải trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, tổng cộng số tiền là 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi là 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023) phát sinh do chậm thanh toán trên số nợ gốc thực nợ với mức lãi điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay là phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đồng thời tiếp tục tính lãi từ ngày 13/9/2023 trên số dự nợ thực nợ cho đến khi thực trả hết nợ với mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn và mức lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.
[2.3] Để bảo đảm cho việc hoàn trả đầy đủ vốn vay và lãi phát sinh trong Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021 các bên đương sự đã áp dụng biện pháp bảo lãnh tài sản cụ thể:
- Ông Phạm Văn Đ và bà Võ Thị G đã áp dụng biện pháp thế chấp tài sản bảo lãnh là Quyền sử dụng thửa đất 751, 752 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành B0 375384 số vào sổ cấp GCN CH02765 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 03/07/2013. Hình thức ông Phạm Văn Đ và bà Võ Thị G với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 007221 quyền số 07TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 được công chứng tại Phòng C, TP .. Tài sản nêu trên được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 13/7/2020 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N phù hợp Điều 12 Nghị Định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.
- Ông Phạm Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Kim D1 đã áp dụng biện pháp thế chấp tài sản bảo lãnh là Quyền sử dụng thửa đất 140 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành BY 383782 số vào sổ cấp GCN CH03707 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 13/03/2015. Hình thức ông Phạm Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Kim D1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 007220 quyền số 07TP/CC- SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 được công chứng tại Phòng C, TP .. Tài sản nêu trên được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 13/7/2020 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N phù hợp Điều 12 Nghị Định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.
[2.4] Xét Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/6/2023 thì Quyền sử dụng thửa đất 140 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện N đất trống không có công trình kiến trúc trên đất. Quyền sử dụng thửa đất 751 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã H, huyện N thì tài sản trên đất phát sinh gồm căn nhà tạm cột sắt, lợp tôn, xung quanh nhà làm tôn và một phần tường gạch, căn nhà bỏ hoang không ai sinh sống. Quyền sử dụng thửa đất 752 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã H, huyện N thì tài sản trên đất phát sinh gồm cái căn nhà cấp 4 có chiều ngang 4m dài 20 m có kết cấu nền gạch, tường gạch, mái lợp tôn, căn nhà bỏ hoang không ai sinh sống.
Do đó tại điểm a Khoản 2 Điều 6 Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 007221 quyền số 07TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/7/2020 được công chứng tại Phòng C, TP . có thỏa thuận “ ... Khi xử lý TSBĐ, nếu diện tích đất, diện tích xây dựng được thể chấp thay đổi vì bất cứ lý do gì (lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với diện tích đất, diện tích xây dựng thực tế, xây dựng không đúng theo giấy phép...) hoặc Bên thể chấp không thực hiện thủ tục hoàn công và các thủ tục khác, S1 hoặc cơ quan có thẩm quyền có toàn quyền xử lý toàn bộ TSBĐ (cả phần diện tích vượt quá nếu có) để thu hồi nợ. Bên thể chấp không thể nêu ra lý do này để giữ lại một phần TSBĐ hoặc ngăn cản S1 xử lý TSBĐ để thu hồi nợ...” Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần S phát mãi tài sản thế chấp và những tài sản gắn liền với đất không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành B0 375384 số vào sổ cấp GCN CH02765 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 03/07/2013 là căn nhà tạm cột sắt, lợp tôn, xung quanh nhà làm tôn và một phần tường gạch mà Công ty TNHH X không trả được hoặc không trả hết nợ là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 49 và Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 15/5/2021 hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Điều 321, Điều 322, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/12/2016. Xét án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Công ty TNHH X có giá ngạch 117.651.133 đồng do chấp nhận yêu cầu nguyên đơn mà buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 9.651.132.587 đồng.
[4] Về chi phí thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH X phải chịu 20.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do chi phí thẩm định tại chỗ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tạm đóng là 20.000.000 đồng, nên Công ty TNHH X phải nộp số tiền 20.000.000 đồng trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 157; Điều 184; Điều 192; Điều 217; Điều 225; Điều 227; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 321, Điều 322, Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 12 Nghị Định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm 29/12/2006; Điều 49 và Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ngày 15/5/2021;
Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước đối với khách hàng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hàng ngày 31/12/2016.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty TNHH X có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 9.651.132.587 đồng trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó tiền gốc là 8.000.000.000 đồng và lãi 1.651.132.587 đồng (trong đó lãi trong hạn 520.497.418 đồng; lãi quá hạn 1.068.032.877 đồng, lãi phạt chậm trả 62.602.292 đồng tạm tính đến ngày 12/9/2023) theo Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số: 202025516563 ngày 10/07/2020 các Số giấy nhận nợ LD2115100487 ngày 31/5/2021; Số giấy nhận nợ LD2115200480 ngày 01/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2115500286 ngày 04/06/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900664 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2118900670 ngày 08/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000013 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000043 ngày 09/07/2021; Số giấy nhận nợ LD2119000126 ngày 09/07/2021.
Lãi sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 13/9/2023 trên số dự nợ thực nợ cho đến khi thực trả hết nợ với mức lãi suất trong các hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay theo quyết định của tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân Hàng cho vay.
2. Trong trường hợp đến hạn trả tiền mà bị đơn Công ty TNHH X không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật xử lý tài sản thế chấp kể cả việc kê biên, phát mãi để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì lúc này buộc ông Phạm Văn Đ, bà Võ Thị G, ông Phạm Thanh H1, bà Nguyễn Thị Kim D1 giao tài sản như sau:
Quyền sử dụng thửa đất 140 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành BY 383782 số vào sổ cấp GCN CH03707 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ông Phạm Thanh H1, bà Nguyễn Thị Kim D1 vào ngày 13/03/2015 cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý.
Quyền sử dụng thửa đất 751, 752 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại xã H, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành B0 375384 số vào sổ cấp GCN CH02765 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ông Phạm Văn Đ, bà Võ Thị G vào ngày 03/07/2013 và những tài sản gắn liền với đất không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở là là căn nhà tạm cột sắt, lợp tôn, xung quanh nhà làm tôn và một phần tường gạch cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý.
Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì Công ty TNHH X phải tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Ngược lại Công ty TNHH X trả đủ tiền Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp (xóa đăng ký biện pháp bảo đảm) theo quy định pháp luật và giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành BY 383782 số vào sổ cấp GCN CH03707 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 13/03/201 cho ông Phạm Thanh H1, bà Nguyễn Thị Kim D1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành B0 375384 số vào sổ cấp GCN CH02765 do Ủy ban nhân dân huyện N, TP . cấp ngày 03/07/2013 cho ông Phạm Văn Đ, bà Võ Thị G.
Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 117.651.133 đồng (Một trăm mười bảy triệu sáu trăm năm mươi một ngàn một trăm ba mươi ba đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.401.900 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2022/0014465 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.
Về chi phí thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH X phải nộp số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
4. Quyền kháng cáo Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 30/2023/KDTM-ST
| Số hiệu: | 30/2023/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 12/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về