TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 282/2024/DS-ST NGÀY 05/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 553/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1412/2024/QĐXX-ST ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1797/2024/QĐST-DS ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Trụ sở: số A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh T1. Địa chỉ: Lầu E, tòa nhà M, E C, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Theo Hợp đồng ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC ngày 13/4/2023 của Ngân hàng TMCP Q, Theo Văn bản ủy quyền số 2470.2/UQ-MBAMC ngày 13/4/2023 của Tổng giám đốc Công ty M và văn bản ủy quyền số 674/2023/UQ-MBAMC ký ngày 05/4/2024). (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Võ Đình L, sinh năm 1986. (vắng mặt) Địa chỉ: A H, tổ G, Khu phố G, thị trấn Nhà Bè, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần K. Địa chỉ; Tầng D, Trung tâm thương mại V, A V, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông K1, chức vụ: Tổng giám đốc. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 và các biên bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (gọi tắt là M1) ủy quyền cho ông Đỗ Thanh T1 trình bày:
Ngày 19/10/2020 Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh G (MB) và ông Võ Đình L đã cùng ký kết Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020 với nội dung số tiền vay 1,548,950,101 đồng, Mục đích vay mua bất động sản, thời hạn vay: 420 tháng, tính từ ngày 19/10/2020 đến ngày 19/10/2055. Phương thức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất cho vay 10,4% và được điều chỉnh từng thời kỳ.
- Để bảo đảm cho các khoản vay nêu trên, ông Võ Đình L đã thế chấp cho MB tài sản bảo đảm là Quyền phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 giữa Công ty cổ phần K ông Võ Đình L và các phụ lục đi kèm về việc mua bán chuyển nhượng Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m2 thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Việc thế chấp được đăng ký Giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của Pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Võ Đình L đã thanh toán tổng số tiền là: 154.921.099 đồng, trong đó gốc đã trả: 76,806,932 đồng, lãi đã trả: 78.114.167 đồng, từ kỳ trả nợ tháng 11/2022 đến nay, ông Võ Đình L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ, khoản vay đối với MB.
Dư nợ các khoản vay nêu trên tạm tính đến 05/09/2024 là 1.958.442.756 đồng trong đó nợ gốc 1.571.703.725 đồng; Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Đình L như sau:
1. Ông Võ Đình L phải trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tạm tính đến ngày 05/9/2024 số tiền là 1.958.442.756 đồng bao gồm 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020. Đồng thời Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu tính lãi tiếp tục (phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả) từ ngày 06/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2. Trường hợp ông Võ Đình L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q như sau:
Quyền phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 giữa Công ty cổ phần K với ông Võ Đình L và các phụ lục đi kèm về việc mua bán chuyển nhượng Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m2 thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Việc thế chấp được đăng ký Giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của Pháp luật.
Nếu số tiền phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của Ngân hàng thì ông Võ Đình L vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho đến khi trả nợ xong.
- Bị đơn ông Võ Đình L không có phần trình bày do bị đơn không đến Tòa án tiến hành các thủ tục tự khai, tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nghe xét xử vụ án. Mặc dù đã tiến hành thủ tục tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần K phần trình bày tại văn bản trả lời ngày 04/6/2024 như sau:
Ngày 06/10/2020, Công T2 và ông Võ Đình L đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HDMBCH. Ngày 16/07/2022, ông Võ Đình L đã nhận bàn giao căn hộ S8.0321.06.
Tính tới thời điểm ngày 30/05/2024 Công ty ghi nhận ông Võ Đình L đã thanh toán cho căn hộ số tiền là 1.883.272.916 VNĐ (tương đương 95% Giá trị căn hộ + 100% thuế GTGT + 100% Kinh phí bảo trì).
Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì Công ty nhận thấy tranh chấp giữa Ngân hàng và ông Võ Đình L liên quan đến các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp ký kết giữa Ngân hàng và ông Võ Đình L, đây là quan hệ vay và trả nợ riêng giữa Ngân hàng và ông Võ Đình L. Do đó, Công ty không đưa ra yêu cầu độc lập trong vụ án này. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án đưa vụ án ra xét xử và tuyên Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm là căn hộ nêu trên thì việc xử lý tài sản bảo đảm cần tuân thủ theo Thoả thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm ký giữa Công ty, Ngân hàng và ông Võ Đình L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn ông Võ Đình L phải trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật thanh toán khoản tiền tạm tính đến ngày 05/9/2024 số tiền là 1.958.442.756 đồng bao gồm 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng) theo hợp đồng cho vay giữa nguyên đơn và bị đơn ký. Đồng thời Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 06/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp ông Võ Đình L không thực hiện đúng thời hạn trả nợ và số tiền trả nợ cho Ngân hàng nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Võ Đình L thanh toán khoản tiền tạm tính đến ngày 05/9/2024 số tiền là 1.958.442.756 đồng bao gồm 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020, có mục đích cho vay mua nhà đất như vậy tranh chấp hợp đồng dân sự về tín dụng. Mặc khác ông Võ Đình L cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Đình L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần K nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn không đến Tòa, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Võ Đình L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần K.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu ông Võ Đình L phải trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật thanh toán khoản tiền tạm tính đến ngày 05/9/2024 số tiền là 1.958.442.756 đồng bao gồm 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020.
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020 có lãi suất thỏa thuận cho vay trong hạn 10,4%/năm ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là tháng 01/2021 sau đó được điều chỉnh theo từng thời kỳ của Ngân hàng P Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (nay Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024) và Điều 13 Thông tư 39/2016/TTNHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước đối với khách hàng.
[2.2] Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn và bảng tính lãi theo khách hàng lập ngày 05/9/2024 có cơ sở xác định bị đơn ông Võ Đình L vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Võ Đình L đã trả được số tiền tạm tính đến ngày 05/9/2024 tổng số tiền là 154.921.099 đồng, trong đó gốc đã trả 76.806.932 đồng, lãi đã trả 78.114.167 đồng còn số tiền gốc chưa trả 1.571.703.725 đồng và tiền lãi 386.938.073 đồng là vi phạm nghĩa vụ bên vay của hợp đồng tín dụng theo quy định Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (nay Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024) “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”. Do đó căn cứ bảng kê tính lãi chi tiết của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, như vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc ông Võ Đình L phải trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, tạm tính đến ngày 05/9/2024 số tiền là 1.958.442.756 đồng bao gồm 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng). Đồng thời tiếp tục tính lãi (phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả) từ ngày 06/9/2024 với mức lãi suất các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay tại các hợp đồng tín dụng.
[2.3] Để bảo đảm cho việc hoàn trả đầy đủ vốn vay và lãi phát sinh trong Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020 các bên đương sự đã áp dụng biện pháp thế chấp tài sản bảo đảm như sau:
Quyền phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 giữa Công ty cổ phần K ông Võ Đình L và các phụ lục đi kèm về việc mua bán chuyển nhượng Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m2 thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Việc thế chấp được đăng ký Giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của Pháp luật. Tài sản này được thế chấp tại MB theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở số: 11689.20.114.8235590.BĐ ngày 19/10/2020. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra Công ty Cổ phần K (chủ đầu tư dự án nhà ở) xác nhận Công ty và ông Võ Đình L đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 và ngày 16/07/2022 ông Võ Đình L đã nhận bàn giao căn hộ S8.0321.06, tính tới thời điểm ngày 30/05/2024 Công ty ghi nhận ông Võ Đình L đã thanh toán cho căn hộ số tiền là 1.883.272.916 VND (tương đương 95% Giá trị căn hộ + 100% thuế GTGT + 100% Kinh phí bảo trì). Tài sản thế chấp nêu trên phù hợp quy định tại Điều 117, Khoản 3 Điều 295, Khoản 1 Điều 317 Điều 318 và Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 118 điểm c Khoản 1 Điều 148 Luật nhà ở 2014 và Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Xét Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/01/2024 thì Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m[2] thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh hiện tại ông L quản lý sử dụng và ông L đóng cửa căn hộ. Mặc khác biên bản Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng ngày 21/10/2020 giữa Công ty Cổ phần K (chủ đầu tư dự án nhà ở) và Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh G (bên cho vay/bên nhận thế chấp) và ông Võ Đình L (bên vay/bên mua) ở điều 4. Xử lý tài sản bảo đảm “Trường hợp Dự Án bị thu hồi, giải tỏa theo quyết định của Cơ quan Nhà nước, hoặc theo bản án/quyết định có hiệu lực của tòa án và Bên Vay chưa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân Hàng theo Hợp Đồng Tín Dụng hoặc/và Bên Vay chưa hoàn thành Nghĩa Vụ Được Bảo Đảm đối với Ngân Hàng theo Hợp Đồng Thế Chấp, Chủ Đầu Tư cam kết: Mọi khoản tiền và/hoặc tài sản được đền bù, bồi thường, hoàn trả, tiền phạt, bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư hoặc chuyển nhượng, chuyển đổi (nếu có) mà Bên Vay được hưởng theo quy định của Hợp Đồng Mua Bán và/hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền, sau khi trừ đi toàn bộ các khoản Bên Vay phải thanh toán với Chủ Đầu Tư theo quy định của Hợp Đồng Mua Bán và/hoặc quyết định của Cơ quan Nhà nước, liên quan tương ứng tới các Tài Sản Bảo Đảm sẽ được Chủ Đầu Tư chuyển về tài khoản của Ông/bà Võ Đình L số 7614115975743 mở tại MB, đồng thời Ngân Hàng sẽ thực hiện xóa thế chấp cho các Hợp Đồng Thế Chấp tương ứng. Việc chuyển tiền sẽ được Chủ Đầu Tư thông báo cho Ngân Hàng trước tối đa 05 ngày...”. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phát mại tài sản thế chấp mà ông Võ Đình L không trả được hoặc không trả hết nợ là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 299, Điều 301, Điều 321, Điều 322, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 149 Luật nhà ở 2014 (nay Điều 185 Luật nhà ở 2023) và Điều 49, Điều 52 và Điều 55 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 15/5/2021 hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và tại Điều 5 xử lý tài sản thế chấp Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở số: 11689.20.114.8235590.BĐ ngày 19/10/2020. Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thì lúc này buộc Công ty Cổ phần K (chủ đầu tư dự án nhà ở nêu trên) hỗ trợ, phối hợp để xử lý tài sản thế chấp theo biên bản Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng ngày 21/10/2020.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 31/12/2016. Xét án phí dân sự sơ thẩm bị đơn ông Võ Đình L có giá ngạch 70.753.283 đồng do chấp nhận yêu cầu nguyên đơn mà buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 1.958.442.756 đồng.
[4] Về chi phí thẩm định tại chỗ: ông Võ Đình L phải chịu 15.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do chi phí thẩm định tại chỗ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tạm đóng là 15.000.000 đồng, nên ông Võ Đình L phải nộp số tiền 15.000.000 đồng trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 157; Điều 184; Điều 192; Điều 225; Điều 227; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117, Khoản 3 Điều 295, Điều 299, Điều 301, Khoản 1 Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 321, Điều 322, Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 118, điểm c Khoản 1 Điều 148 và Điều 149 Luật nhà ở 2014;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 8, Điều 49, Điều 52 và Điều 55 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ngày 15/5/2021;
Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước đối với khách hàng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hàng ngày 31/12/2016.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Võ Đình L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền là 1.958.442.756 đồng (Bằng chữ: Một tỷ chín trăm năm mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi sáu đồng) trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật trong đó 1.571.703.725 đồng nợ gốc và 386.938.073 đồng nợ lãi (Nợ lãi trong hạn: 356.442.756 đồng; Nợ lãi quá hạn: 30.495.317 đồng) tạm tính đến ngày 05/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 11688.20.114.8235590.TD ngày 19/10/2020 cùng khế ước nhận nợ ngày 19/10/2020.
Lãi sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 06/9/2024 trên số dư nợ thực tế cho đến khi thực trả hết nợ với mức lãi suất (phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả) trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay theo quyết định của tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân Hàng cho vay. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2. Trong trường hợp đến hạn trả tiền mà bị đơn ông Võ Đình L không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật xử lý tài sản thế chấp kể cả việc kê biên, phát mại để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì lúc này buộc ông Võ Đình L giao tài sản như sau:
Quyền phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 giữa Công ty cổ phần K với ông Võ Đình L và các phụ lục đi kèm về việc mua bán chuyển nhượng Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m2 thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh để Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý.
Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thì lúc này buộc Công ty Cổ phần K (chủ đầu tư dự án nhà ở nêu trên) hỗ trợ, phối hợp để xử lý tài sản thế chấp theo biên bản Thỏa thuận về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng ngày 21/10/2020.
Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì ông Võ Đình L phải tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Ngược lại ông Võ Đình L trả đủ tiền Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có trách nhiệm làm thủ tục xóa thế chấp (xóa đăng ký biện pháp bảo đảm) theo quy định pháp luật và giao trả bản chính Hợp đồng mua bán căn hộ số S8.0321.06/VHGP/HĐMBCH ngày 06/10/2020 giữa Công ty cổ phần K ông Võ Đình L và các phụ lục đi kèm về việc mua bán chuyển nhượng Căn hộ số 21.06 tại tầng 21, diện tích sử dụng căn hộ 30,5m[2] thuộc dự án khu nhà ở Cao tầng thuộc các lô đất A1,A2,A3,A4,A5,A6 - khu dân cư và công viên P (Vinhome G) tại phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Võ Đình L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 70.753.283 đồng (Bảy mươi triệu bảy trăm năm mươi ba ngàn hai trăm tám mươi ba đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.415.140 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2023/0007818 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.
Về chi phí thẩm định tại chỗ: ông Võ Đình L phải chịu số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu về chi phí thẩm định tại chỗ) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Quyền kháng cáo Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 282/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 282/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 05/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về