TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 26/2024/KDTM-ST NGÀY 05/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 105/2024/TLST-DS, ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 212/2024/QĐST-DS, ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần tập đoàn Tr.
Địa chỉ: Số 23, đường Hà Hoàng Hổ, phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh A.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy T – Tổng Gián đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn S – Phụ trách pháp lý công nợ - Ban Pháp Lý (Giấy ủy quyền số 91/UQ-TĐTL ngày 01/3/2023).
Người được ủy quyền lại: Ông Trương Công T và ông Mai Hùng C. – chuyên viên pháp lý: địa chỉ Tầng 3, tháp Sarimi B2, số 72 Nguyễn Cơ Thạch, phường An lợi Đông, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 127/UQ-TĐTL ngày 27/3/2023).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1965 – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N;
Địa chỉ: số 217, đường Phan Bội Châu, khóm Bình Thới 2, phường Bình Khánh, thành phố X, tỉnh A.
Địa chỉ kinh doanh Số 114, tổ 8, ấp Phú Hữu, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại S, tỉnh A.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khóm Thị 2, thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh A. Địa chỉ liên lạc: Số 5C4, đường Tú Xương, khóm Bình Thới 2, phường Bình Khánh, thành phố X, tỉnh A (Giấy ủy quyền do Văn phòng công chứng Cao Thị hồng Cúc lập ngày 20/01/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh T K, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Số 122, đường Cao Thắng, khóm Bình Khánh 2, phường Bình Khánh, thành phố X, tỉnh A.
Ông Huỳnh Hùng D, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số 122, đường Cao Thắng, khóm Bình Khánh 2, phường Bình Khánh, thành phố X, tỉnh A.
(Ông T, ông Đ, ông D có đơn xin vắng mặt, ông K vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn do ông Trương Công T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 11/11/2016, Công ty Cổ phần tập đoàn Tr – chi nhánh Bảo vệ thực vật A tại Thoại S (bên bán) có ký Hợp đồng mua bán hàng hoá số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT với bà Nguyễn Thị Tuyết N (bên mua) mua hàng các loại hàng hoá là giống, thuốc bảo vệ thực vật … Ngày 01/01/2017, bà N ký Giấy uỷ quyền cho ông Huỳnh T K được thay mặt hộ kinh doanh ký kết các chứng từ, đơn đặt hàng với Công ty Cổ phần tập đoàn Tr. Trong quá trình giao dịch giữa các bên thì ông K có ký các Giấy xác nhận công nợ, chi tiết nợ quá hạn trong các khoảng thời gian (01/11/2019 – 30/11/2019 và 01/8/2020 – 31/8/2020), cam kết thanh toán ngày 06/3/2021 thể hiện còn nợ Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền gốc 422.275.330 đồng, lãi đến ngày 31/12/2020 là 237.213.366 đồng và yêu cầu tthanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 31/12/2020 cho đến khi Toà án đưa vụ án ra xét xử Ngày 30/7/2024 nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu buộc ông Huỳnh Hùng D liên đới với ông K, bà N chịu trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 659.488.696 đồng không yêu cầu ông D, bà N, ông K phải thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 31/12/2020 cho đến khi Toà án đưa vụ án ra xét xử.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N do ông Nguyễn Thanh Đ đại diện trình bày tại hồ sơ:
Vào ngày 11/11/2016, bà N là chủ hộ kinh doanh cầm đồ Tuyết N ký kết hợp đồng mua bán số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT với công ty cổ phần Tr. Tuy nhiên, sau giải quyết xong công nợ với công ty cổ phần Tr bà N đã đề nghị công ty thanh lý hơp đồng mua bán số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT nhưng công ty không đồng ý và hướng dân bà N làm giấy ủy quyền lại cho con là Huỳnh T K ngày 01/01/2017. Ngày 27/8/2018 bà N bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh theo quyết định số 232/QĐ-TCKH ngày 27/8/2018 của Phòng Tài chính kế hoạch huyện Thoại S. Ngày 24/8/2020, bà N cùng chồng là ông Huỳnh Hùng D ly hôn theo quyết định thuận tình ly hôn số 346/2020/ QĐST-HNGĐ của tòa án nhân dân thành phố X. Bà N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr vì bà không ký kết bất cứ công nợ nào với Công ty Cổ phần tập đoàn Tr từ ngày 01/01/2017 đến nay.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh T K trình bày tại tờ tự khai ngày 07/6/2024:
Hộ Kinh doanh cầm đồ Tuyết N có đăng ký hoạt động kinh doanh tại địa chỉ: số 114 tổ 8 ấp Phú Hữu, thị trấn Phú Hòa huyện Thoại S, tỉnh A theo giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 52K8001693 – Đ ký lần đầu ngày 13/02/2006, đăng ký thay đổi lần 2 ngày 16/5/2013 đến ngày 27/8/2018 thì bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định số 232/QĐ- TCKH ngày 27/8/2018 của Phòng Tài chính kế hoạch huyện Thoại S.
Ông K là con của bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Huỳnh Hùng D. Ngày 11/11/2006, bà Tuyết N và Công ty Cổ phần tập đoàn Tr ký kết hợp đồng mua bán số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT mua bán mặt hàng lúa giống các loại. Ngày 01/01/2017 bà N lập giấy ủy quyền số 12/UQ 2016 –CNTS để cho ông K được thay mặt bà N nhận hàng hóa và ký chứng từ giao nhận hàng hóa theo Hợp đồng, ký các đơn đặt hàng và xác nhận công nợ và các chưng từ giao dịch khác có liên quan đến hợp đồng.
Ngày 27/8/2018 khi giấy phép đăng ký kinh doanh của hộ bà N bị thu hồi theo quyết định số 232/QĐ-TCKH ngày 27/8/2018 của Phòng Tài chính kế hoạch huyện Thoại S thì việc ủy quyền này chấm dứt và việc mua bán hàng hóa giữa bà N và công ty Tr cũng đã chấm dứt. Từ thời điểm 27/8/2018 hộ kinh doanh cầm đồ tuyết N đã không còn hoạt động. Ngày 19/12/2015, ông K là chủ hộ kinh doanh Đại lý lúa giống Tuyết N. Ông K được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số số 52K8007154, đăng ký lần đầu ngày 19/12/2015, đăng ký thay đổi lần 2 ngày 03/5/2017. Giấy xác nhận công nợ mà ông K ký kết với công ty Tr ngày 31/8/2020 là nợ riêng của ông. Ông K đồng ý tự chịu trách nhiệm đối với số tiền gốc 422.275.330 đồng, ông đồng ý trả số tiền trên cho công ty Tr. Riêng lãi ông không đồng ý trả; Không đồng ý việc công ty Tr kiện ba mẹ ông là bà N và ông D.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hùng D không gửi văn bản trình bày ý kiến và có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 07/6/2024.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các Điều 357, 430, 436, 440 Bộ luật dân sự 2015.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần tập đoàn Tr.
Buộc ông Huỳnh T K có trách nhiệm liên đới với bà N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 422.275.330 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền lãi là số tiền 237.213.366 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần tập đoàn Tr về việc buộc ông Huỳnh T K có trách nhiệm liên đới với bà N trả lãi cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 237.213.366 đồng - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr đối với: Việc buộc ông Huỳnh Hùng D liên đới với ông K, bà N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 659.488.696 đồng và việc yêu cầu ông Huỳnh Hùng D, bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Huỳnh T K thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ sau ngày 31/12/2020 cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố X giải quyết nên Tòa án nhân dân thành phố X đã thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn Công ty Cổ phần tập đoàn Tr ủy quyền cho ông Trương Công T theo Giấy ủy quyền số Giấy ủy quyền số 127/UQ-TĐTL ngày 27/3/2023 là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ông Trương Công T tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 11/11/2016, Công ty Cổ phần tập đoàn Tr – chi nhánh Bảo vệ thực vật A tại Thoại S (bên bán) có ký Hợp đồng mua bán hàng hoá số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT với bà Nguyễn Thị Tuyết N (bên mua) mua hàng các loại hàng hoá là giống, thuốc bảo vệ thực vật … Ngày 01/01/2017, bà N ký Giấy uỷ quyền cho con trai là ông Huỳnh T K được thay mặt hộ kinh doanh ký kết các chứng từ, đơn đặt hàng với Công ty Cổ phần tập đoàn Tr (sau đây gọi tắt là Công Ty). Trong quá trình giao dịch giữa các bên thì ông K đã ký các Giấy xác nhận công nợ, chi tiết nợ quá hạn trong các khoảng thời gian (01/11/2019 – 30/11/2019 và 01/8/2020 – 31/8/2020), cam kết thanh toán ngày 06/3/2021 thể hiện còn nợ Công ty số tiền gốc 422.275.330 đồng, lãi đến ngày 31/12/2020 là 237.213.366 đồng.
Theo bản tự khai ngày 30/7/2024, nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu buộc ông D liên đới với ông K, bà N chịu trách nhiệm thanh toán cho Công ty số tiền 659.488.696 đồng và không yêu cầu ông D cùng chịu trách nhiệm với ông K và bà N trả tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 31/12/2020 cho đến khi Toà án đưa vụ án ra xét xử.
Xét thấy, mặc dù Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N do bà N đại diện đã bị Phòng Tài chính kế hoạch huyện Thoại S thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Quyết định số 232/QĐ-TCKH ngày 27/8/2018. Căn cứ Giấy uỷ quyền số 12/UQ2016-CNTS ngày 01/01/2017, bà N đã uỷ quyền cho ông Huỳnh T K được thay mặt hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N ký kết các chứng từ, đơn đặt hàng với Công ty Cổ phần tập đoàn Tr theo nội dung Hợp đồng mua bán hàng hoá số 72/CNTS/HĐMB-TLĐT ngày 11/11/2016, “Giấy uỷ quyền này có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi người uỷ quyền có văn bản bãi bỏ việc uỷ quyền này và gửi cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Tr – Chi nhánh Bảo vệ thực vật A tại Thoại S” và “Bên mua có thể trao quyền cho bất kỳ người nào bằng văn bản làm người được uỷ quyền của bên mua thông qua bằng Giấy uỷ quyền để đại diện bên mua ký nhận hàng, hoá đơn, chứng từ … Việc bên bán giao sản phẩm cho bất kỳ người nào theo Giấy uỷ quyền của bên mua sẽ được coi là bên mua tiếp nhận những sản phẩm của bên bán” Từ những cơ sở nêu trên nhận thấy việc giao dịch mua bán giữa Công ty Cổ phần tập đoàn Tr với hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N (do bà N chủ hộ kinh doanh và ông K đại diện theo uỷ quyền) là liên tục từ năm 2016 cho đến năm 2020 theo hợp đồng đã ký từ năm 2016, Ông K trình bày ông và công ty Cổ phần tập đoàn Tr đã xác lập hợp đồng mới tuy nhiên ngoài lời trình bày ra ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình; công ty Cổ phần tập đoàn Tr không thống nhất lời trình bày của ông K. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định giữa ông K và Công ty không xác lập hợp đồng mới (ông K cũng không ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá với Công ty Cổ phần tập đoàn Tr với tư cách hộ kinh doanh đại lý lúa giống Tuyết N như ông K trình bày).
Năm 2018, hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không thông báo cho Công ty Tr và cũng không có văn bản bãi bỏ việc uỷ quyền đối với ông K nên việc ông K phát sinh giao dịch hàng hoá dẫn đến nợ tiền thanh toán của Công ty Tr thể hiện theo như Cam kết thanh toán ngày 06/3/2021 còn nợ số tiền hàng hoá chưa thanh toán là 659.488.696 đồng (gốc 422.275.330 đồng, lãi đến ngày 31/12/2020 là 237.213.366 đồng) là trách nhiệm của bà Nguyễn Thị Tuyết N – chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N. Bà Nguyễn Thị Tuyết N – chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N phải có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 422.275.330 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông K tự nguyện chịu trách nhiệm trả số tiền gốc 422.275.330 đồng cho cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông K. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty buộc bà N và ông K liên đới trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 422.275.330 đồng.
Riêng đối với số tiền lãi 237.213.366 đồng, do ông K không đồng ý thanh toán đối với số tiền lãi là 237.213.366 đồng nên không có cơ sở để hội đồng xét xử chấp nhận. Bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 237.213.366 đồng.
Do nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu ông D liên đới với ông K, bà N chịu trách nhiệm thanh toán cho Công ty số tiền 659.488.696 đồng. Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr về việc buộc ông Huỳnh Hùng D liên đới với ông Huỳnh T K, bà Nguyễn Thị Tuyết N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 659.488.696 đồng.
Từ nhưng phân tích trên, hội đồng xét xử căn cứ Điều 5, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các Điều 357, 430, 436, 440 Bộ luật dân sự 2015.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N và ông Huỳnh T K cùng có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền vốn 422.275.330 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền số tiền lãi 237.213.366 đồng Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Huỳnh T K có trách nhiệm liên đới với bà N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền lãi 237.213.366 đồng Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr về việc buộc ông Huỳnh Hùng D liên đới với ông Huỳnh T K, bà Nguyễn Thị Tuyết N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 659.488.696 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr về việc buộc ông Huỳnh Hùng D, bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Huỳnh T K thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ sau ngày 31/12/2020 cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
[3] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 gày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội. Buộc các đương sự chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu được Tòa án chấp nhận.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được HĐXX chấp nhận nên không phải chịu án phí; tuy nhiên nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu buộc trách nhiệm liên đới không được HĐXX chấp nhận với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 15.190.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011746 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại S, tỉnh A. Công ty Cổ phần tập đoàn Tr còn được nhận lại số tiền 14.890.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N và ông Huỳnh T K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.891.013 đồng.
Bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.860.668 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điều 5, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Điều 357, 430, 436, 440 Bộ luật dân sự 2015 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hùng D, ông Huỳnh T K.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần tập đoàn Tr.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N và ông Huỳnh T K có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 422.275.330 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N – Chủ hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tuyết N có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền lãi là 237.213.366 đồng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Huỳnh T K có trách nhiệm liên đới cùng bà N phải trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền lãi là 237.213.366 đồng.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần tập đoàn Tr về việc buộc ông Huỳnh Hùng D liên đới với ông Huỳnh T K, bà Nguyễn Thị Tuyết N trả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tr số tiền 659.488.696 đồng và yêu cầu buộc ông Huỳnh Hùng D, bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Huỳnh T K thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ sau ngày 31/12/2020 cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Huỳnh T K phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí sơ thẩm số tiền 20.891.013 đồng.
Bà Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 11.860.668 đồng.
Công ty Cổ phần tập đoàn Tr phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu buộc trách nhiệm liên đới không được HĐXX chấp nhận với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Án phí được khấu trừ vào 15.190.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011746 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại S, tỉnh A. Công ty Cổ phần tập đoàn Tr còn được nhận lại số tiền 14.890.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 26/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 26/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 05/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về