TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 198/2026/DS-PT NGÀY 22/07/2026 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2026/TLPT-DS ngày 29 tháng 05 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 172/2026/QĐXXPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á, trụ sở: Số D N, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P; chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Huy H; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: Số B B, phường H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
-Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1964; cùng địa chỉ: Số A N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số E B, phường C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
-Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án; bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Huy H trình bày:
Ngân hàng TMCP Á (A) cấp tín dụng cho ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C 02 hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:
+ Hợp đồng cấp tín dụng số: THK.CN.2361.251220 ngày 28/12/2020 với hạn mức cho vay 1.450.000.000 đồng, mục đích cho vay: Xây dựng/sửa chữa nhà - Xây nhà – Cấp mới xây nhà tại địa chỉ A N, phường H, quận H, Đà Nẵng và được giải ngân bằng 01 khế ước nhận nợ gồm: Khế ước nhận nợ số 325799349 ngày 30/12/2020 được giải ngân 1.450.000.000 đồng, thời hạn cho vay từ ngày 31/12/2020 đến ngày 30/12/2030, lãi suất cho vay: lãi suất trong hạn là 9.5%/năm, một năm được tính là 365 ngày, lãi suất vay được cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận được tiền vay; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LS13+3.5%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
+ Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số THK.CN.2080.100223 ngày 13/02/2023; Hợp đồng cấp tín dụng số THK.CN.2083.100223 ngày 13/02/2023, mục đích cho vay: Tiêu dùng có TSBĐ – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình căn nhà tại A N, Đà Nẵng và được giải ngân bằng 01 khế ước nhận nợ gồm: Khế ước nhận nợ số 388248399 ngày 13/02/2023 được giải ngân 500.000.000 đồng, thời hạn cho vay từ ngày 14/02/2023 đến ngày 13/02/2030, lãi suất cho vay: lãi suất trong hạn là 10%/năm, một năm được tính là 365 ngày, cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3.5%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm;
Trong quá trình vay vốn đến ngày 30/3/2026, đối với khoản vay ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã trả được 458.515.345 đồng tiền gốc và 577.984.000 tiền lãi.
Về biện pháp bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 221, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là A N, phường H, thành phố Đà Nẵng) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV224230, số vào số CTs45096 do Sở Tài nguyên và Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 20/8/2014. Tài sản thế chấp cho A căn cứ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số THK.BDCN.363.251220 ngày 28/12/2020 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 10745; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận H, thành phố Đà Nẵng ngày 29/12/2020, số thứ tự 9135/20.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 18/7/2025, A ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc chưa thanh toán của khế ước nhận nợ và thẻ tín dụng nêu trên, tuy nhiên ông S và bà C vẫn không trả toàn bộ số nợ. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Á (A) khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
+ Buộc ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C trả ngay cho Ngân hàng TMCP Á (A) tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 30/3/2026 là 1.783.182.774 đồng, trong đó gồm: nợ gốc 1.491.484.655 đồng, lãi trong hạn 19.414.579 đồng, lãi quá hạn 260.391.979 đồng, phạt chậm trả lãi 11.891.561 đồng.
+ Buộc ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ tính kể từ ngày 31/3/2026 đến ngày trả hết nợ.
+ Nếu ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 221, TBĐ số 09, địa chỉ tại A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là A N, phường H, thành phố Đà Nẵng) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C.
- Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
Bị đơn thống nhất quá trình vay nợ, trả nợ của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C tại Ngân hàng TMCP Á như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày. Khi vay tiền ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã thế chấp cho ngân hàng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 221, TBĐ số 09, địa chỉ tại A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là A N, phường H, thành phố Đà Nẵng) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV224230, số vào số CTs45096 do Sở Tài nguyên và Môi Trường thành phố Đ cấp ngày 20/8/2014 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay.
Trong quá trình vay vốn, tính đến ngày 30/3/2026 ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã trả được 458.515.345 đồng tiền gốc và 577.984.000 tiền lãi. Bị đơn thống nhất tổng số nợ còn thiếu Ngân hàng TMCP Á tính đến ngày 30/3/2026 là 1.783.182.774 đồng, trong đó gồm: nợ gốc 1.491.484.655 đồng, lãi trong hạn 19.414.579 đồng, lãi quá hạn 260.391.979 đồng, phạt chậm trả lãi 11.891.561 đồng như đại diện Ngân hàng đã trình bày.
Do hoàn cảnh khó khăn nên ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C xin Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C gia hạn tất toán toàn bộ khoản nợ đối với Ngân hàng, đồng thời đề nghị ngân hàng xem xét giảm bớt khoản tiền lãi.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 299, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị C về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Tuyên xử:
1.Buộc ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 30/3/2026 là 1.783.182.774 đồng (Một tỷ, bảy trăm tám mươi ba triệu, một trăm tám mươi hai ngàn, bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó gồm: nợ gốc 1.491.484.655 đồng, lãi trong hạn 19.414.579 đồng, lãi quá hạn 260.391.979 đồng, lãi chậm trả lãi 11.891.561 đồng.
Kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2026 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.Xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số THK.BĐCN.363.251220 ngày 28/12/2020. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 221, tờ bản đồ số 09, địa chỉ A N, phường H, Tp Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV224230, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CTs45096 do Sở T cấp ngày 20/8/2014, thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị C.
Sau khi ông S, bà C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Á có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông S, bà C: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV224230, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CTs45096 do Sở T cấp ngày 20/8/2014, thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị C.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/4/2026, bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị đơn thời gian gia hạn đến tháng 9/2026 để tất toán khoản vay, giữ lại tài sản không phát mãi xử lý nợ, đồng thời đề nghị ngân hàng giảm bớt khoản tiền lãi.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu của bị đơn và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ cũng như qua phần tranh luận tại phiên tòa, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C: [2.1]. Về thủ tục tố tụng:
Việc thụ lý kháng cáo của bị đơn trong thời hạn, đúng điều kiện, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C là hợp pháp.
[2.2]. Về nội dung:
Ngân hàng TMCP Á (A) cấp tín dụng cho ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C theo 02 hợp đồng tín dụng cụ thể như sau: Hợp đồng cấp tín dụng số THK.CN.2361.251220 ngày 28/12/2020, hạn mức cho vay 1.450.000.000 đồng, mục đích cho vay: Xây dựng/sửa chữa nhà - Xây nhà – Cấp mới xây nhà tại địa chỉ A N, phường H, quận H, Đà Nẵng, được giải ngân bằng 01 khế ước nhận nợ gồm: Khế ước nhận nợ số 325799349 ngày 30/12/2020 số tiền 1.450.000.000 đồng, thời hạn cho vay từ ngày 31/12/2020 đến ngày 30/12/2030, lãi suất cho vay: lãi suất trong hạn là 9.5%/năm, lãi suất vay được cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận được tiền vay; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LS13+3.5%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm; Hợp đồng cấp tín dụng số THK.CN.2083.100223 ngày 13/02/2023, mục đích cho vay: Tiêu dùng có TSBĐ – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình căn nhà tại A N, Đà Nẵng, được giải ngân bằng Khế ước nhận nợ số 388248399 ngày 13/02/2023 số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn cho vay từ ngày 14/02/2023 đến ngày 13/02/2030, lãi suất cho vay: lãi suất trong hạn là 10%/năm, cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3.5%/năm, lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm
Xét thấy, các Hợp đồng tín dụng nói trên được các bên tự nguyện thoả thuận ký kết, phù hợp với quy định của pháp luật nên các hợp đồng trên là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã thế chấp tài sản tại Hợp đồng thế chấp tài sản số: THK.BDCN.363.251220 ngày 28/12/2020, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 221, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là A N, phường H, thành phố Đà Nẵng), đã được Sở Tài nguyên và Môi Trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV224230 ngày 20/8/2014, số vào số CTs45096 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C theo. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 10745 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận H, thành phố Đà Nẵng ngày 29/12/2020, số thứ tự 9135/20.
Như vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản số: THK.BDCN.363.251220 ngày 28/12/2020 đã được các bên tự nguyện thoả thuận ký kết, đã được công chứng và đăng ký thế chấp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hợp pháp và phát sinh hiệu lực.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 30/3/2026, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C đã trả được cho Ngân hàng TMCP Á 458.515.345 đồng tiền gốc và 577.984.000 tiền lãi. Ngày 06/4/2025, Ngân hàng R Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc chưa thanh toán của các khoản nợ vay trên, tuy nhiên ông S và bà C vẫn không thanh toán nợ vay cho ngân hàng như đã thoả thuận tại hợp đồng. Do ông S và bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng nên Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông S và bà C trả nợ vay và xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ.
Do đó, Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị C, buộc ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 30/3/2026 là 1.783.182.774 đồng, trong đó gồm: nợ gốc 1.491.484.655 đồng, lãi trong hạn 19.414.579 đồng, lãi quá hạn 260.391.979 đồng, lãi chậm trả lãi 11.891.561 đồng; đồng thời quyết định trong trường hợp ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số THK.BĐCN.363.251220 ngày 28/12/2020 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện bị đơn đề nghị ngân hàng cho gia hạn thời gian trả nợ, xem xét giảm số tiền lãi, tuy nhiên đại diện cho nguyên đơn không đồng ý và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải trả toàn bộ nợ vay, nếu không trả được toàn bộ nợ vay thì xử lý hợp đồng thế chấp theo nội dung đã ghi nhận tại các hợp đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS - ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng.
[3]Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[4]Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 299, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1.Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số: 188/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị C về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Buộc ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 30/3/2026 là 1.783.182.774 đồng (Một tỷ, bảy trăm tám mươi ba triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó gồm: nợ gốc 1.491.484.655 đồng, lãi trong hạn 19.414.579 đồng, lãi quá hạn 260.391.979 đồng, lãi chậm trả lãi 11.891.561 đồng.
Kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2026 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: THK.BDCN.363.251220 ngày 28/12/2020, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 221, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là A N, phường H, thành phố Đà Nẵng), đã được Sở Tài nguyên và Môi Trường thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV224230 ngày 20/8/2014, số vào số CTs45096 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C.
Sau khi ông S, bà C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Á có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông S, bà C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV224230 ngày 20/8/2014, số vào số CTs45096 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C.
2.Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Hữu S và bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004686 ngày 08 tháng 05 năm 2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
3.Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/7/2026)
5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 198/2026/DS-PT ngày 22/07/2026
| Số hiệu: | 198/2026/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 22/07/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về