Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 185/2023/DS-ST ngày 05/09/2023

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 185/2023/DS-ST NGÀY 05/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1232/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 1333/2023/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S Địa chỉ: Lầu H, 2 Đường N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Thân Lê N; Địa chỉ: 278 Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hải N - Sinh năm 1974 Địa chỉ: 1 Đường L, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 12 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N1 trình bày:

Ngày 30/12/2019, ông Nguyễn Hải N ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 436xxx-0821 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 38.780.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã trả cho Ngân hàng số tiền (gồm gốc và lãi) là 33.770.000 đồng.

Kể từ ngày 06/02/2021, ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 06/06/2021 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông N là 10.014.754 đồng sang nợ quá hạn. Lãi suất quá hạn là 3,6%/tháng (lãi suất trong hạn là 2,4%/tháng x 150%).

Tính đến ngày 05/09/2023, ông Nguyễn Hải N còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 19.893.550 đồng trong đó nợ gốc là 10.014.754 đồng và lãi quá hạn là 9.878.754 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc yêu cầu ông N có trách nhiệm trả ngay khoản nợ quá hạn và cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông N trả nợ nhưng ông N vẫn không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng, ông N đã vi phạm các điều khoản được quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Hải N trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 05/09/2023 là 19.893.550 đồng trong đó nợ gốc 10.014.754 đồng và lãi quá hạn là 9.878.796 đồng. Ngoài ra, ông N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 06/9/2023 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng. Yêu cầu ông N trả toàn bộ số tiền làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Hải N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông N cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hải N là bị đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Hải N vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả toàn bộ số nợ gốc là 10.014.754 đồng. Căn cứ Hợp đồng mở thẻ tín dụng ký ngày 30/12/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) có số thẻ 436xxx-0821 và bản tóm tắt sao kê có đủ cơ sở để xác định bị đơn là ông N có sử dụng thẻ của Ngân hàng, giữa ông Nguyễn Hải N và Ngân hàng đã phát sinh giao dịch dân sự là vay tài sản. Cụ thể như sau: Theo Hợp đồng mở thẻ tín dụng ký ngày 30/12/2019 thì ông N được cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 38.780.000 đồng và đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 33.770.000 đồng bao gồm cả gốc và lãi. Kể từ ngày 06/02/2021, ông Nguyễn Hải N vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại là 10.014.754 đồng (gồm nợ gốc, phí trễ hạn và lãi trong hạn) sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/06/2021. Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định "Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng". Trong trường hợp này, ông Nguyễn Hải N là bên đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ và thời hạn trả nợ trong hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn, bị đơn vị phạm thời hạn trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu trả toàn bộ số tiền còn nợ là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Hải N phải trả số tiền nợ gốc là 10.014.754 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong quá trình vay và sử dụng thẻ ông N đã vi phạm hợp đồng, không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo quy định trong hợp đồng nên ông N phải chịu lãi theo quy định tại các điều khoản của hợp đồng. Theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong các hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng mở thẻ tín dụng ký ngày 30/12/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) do ông N ký thì giữa ông N và Ngân hàng đã thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại. Lãi suất quá hạn là 3,6%/tháng (lãi suất trong hạn là 2,4%/tháng x 150%). Như vậy, theo hợp đồng thẻ tín dụng nói trên, ông N đồng ý thỏa thuận và ký hợp đồng với nguyên đơn Ngân hàng nghĩa là ông N mặc nhiên đồng ý chịu khoản lãi được quy định trong hợp đồng và phải chịu các nghĩa vụ trả nợ khác của Ngân hàng. Tính đến ngày 05/09/2023, số tiền lãi mà ông N phải trả cho nguyên đơn là 9.878.754 đồng. Ngoài ra, ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 06/09/2023 cho đến khi ông N trả hết nợ. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Hải N phải trả cho nguyên đơn tiền lãi tính đến ngày 05/09/2023 là 9.878.754 đồng và ông N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 06/09/2023 cho đến khi ông N trả hết nợ là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ những nhận định trên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng, buộc ông Nguyễn Hải N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền 19.893.550 đồng, trong đó nợ gốc là 10.014.754 đồng, nợ lãi là 9.878.796 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 06/09/2023 cho đến khi ông N trả hết nợ. Về phương thức trả nợ: Do ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy yêu cầu của Ngân hàng buộc ông N phải trả toàn bộ số nợ còn thiếu ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Hải N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 05/09/2023 là 19.893.550 đồng, trong đó nợ gốc là 10.014.754 đồng, nợ lãi là 9.878.796 đồng theo Hợp đồng mở Thẻ tín dụng số thẻ 436xxx-0821 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) ký ngày 30/12/2019. Phương thức trả: Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Hải N có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/9/2023 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận theo Hợp đồng mở Thẻ tín dụng số thẻ 436xxx-0821 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được coi chung là Hợp đồng) ký ngày 30/12/2019.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm là 994.678 (Chín trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm bảy mươi tám) đồng do ông Nguyễn Hải N chịu. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 413.513 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0037173 ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 185/2023/DS-ST ngày 05/09/2023

Số hiệu:185/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về