TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
BẢN ÁN 119/2023/DS-ST NGÀY 29/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 199/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á;
Địa chỉ trụ sở: Số 130 P, phường X, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt D – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Nha Trang; (Theo Quyết định ủy quyền số 163/QĐ-DAB-HDQT/PC ngày 08/8/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á).
Người đại diện tham gia tố tụng: Bà Đào Thị Thu H; Địa chỉ: Số 55 đường 2/4, phường V, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; (Theo Quyết định ủy quyền số 08/QĐ-NTG ngày 14/02/2023 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Nha Trang); Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Bà Lê Thị Bích Q - Sinh năm: 1976;
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đại Cát 1, xã N, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Bửu Lân - Sinh năm: 1994;
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đại Cát 1, xã N, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/9/2020, Ngân hàng TMCP Đông Á - Chi nhánh Nha Trang (Gọi tắt là DongA Bank) và bà Lê Thị Bích Q ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130; Theo đó, DongA Bank đồng ý cho bà Q vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng (Từ ngày 29/9/2020 đến ngày 29/9/2021), lãi suất vay: 12%/năm, mục đích vay để sản xuất, kinh doanh cá thể và hộ gia đình, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, tài sản đảm bảo: tín chấp, số tiền trả góp hàng tháng: 2.000.000 đồng/tháng trong vòng 11 tháng đầu, tháng 12 (tháng cuối) trả 4.000.000 đồng.
Với thỏa thuận như trên thì bà Q phải trả cho DongA Bank số tiền 22.400.000 đồng (gốc: 20.000.000 đồng, lãi: 2.400.000 đồng). Nhưng tính đến ngày 15/8/2022, bà Q chỉ trả được 12.000.000 đồng (gốc: 10.246.153 đồng, lãi trong hạn: 1.753.847 đồng).
Mặc dù DongA Bank nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện nhưng bà Q không có thiện chí trả nợ. Do vậy, DongA Bank đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay trên sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 04/8/2023, dư nợ của bà Q tại DongA Bank là, nợ gốc: 9.753.847 đồng; nợ lãi trong hạn: 646.153 đồng; nợ lãi quá hạn:
3.924.842 đồng; Tổng cộng: 14.324.842 đồng (Mười bốn triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn tám trăm bốn mươi hai đồng).
Nay, DongA Bank khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Bích Q phải trả một lần và đầy đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00748142/0136956001T20130 đề ngày 29/9/2020, tạm tính đến ngày 04/8/2023: Nợ gốc là 9.753.847 đồng; nợ lãi trong hạn là 646.153 đồng; nợ lãi quá hạn là 3.924.842 đồng; Tổng cộng: 14.324.842 đồng (Mười bốn triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn tám trăm bốn mươi hai đồng). Và tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng tín dụng nói trên kể từ ngày 05/8/2023 cho đến khi bà Q trả hết nợ.
Trong trường hợp bà Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho DongA Bank, thì đề nghị Tòa án buộc ông Võ Bửu Lân trả nợ thay cho bà Q theo đúng cam kết của người bảo lãnh, được ghi nhận tại Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đề ngày 10/9/2020 giữa DongA Bank với bà Q và ông Lân.
* Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã ra quyết định ủy thác tư pháp cho Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh khánh Hòa thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn – bà Lê Thị Bích Q và người liên quan – ông Võ Bửu Lân, yêu cầu ông bà có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để cung cấp tài liệu, chứng cứ, trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, bà Quyền và ông Lân vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa:
1. Các đương sự đều vắng mặt.
2. Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á.
- Án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị Bích Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
- Theo các tài liệu do nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á (Sau đây viết tắt là Ngân hàng Đông Á) cung cấp gồm: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân của bà Lê Thị Bích Q và ông Võ Bửu Lân; Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130 giữa Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Nha Trang với bà Lê Thị Bích Q; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn... đều thể hiện bà Q, ông Lân có địa chỉ thường trú tại thôn Đại Cát 1, xã N, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đề ngày 17/7/2023, tại Công an xã N, thị xã Ninh Hòa xác nhận: “Bà Lê Thị Bích Q, sinh năm 1976 và ông Võ Bửu Lân, sinh năm 1994 đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Đại Cát 1, xã N, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay, bà Q, ông Lân đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về lại địa phương”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn Ngân hàng Đông Á đã ghi đầy đủ và chính xác địa chỉ của bị đơn, của người liên quan. Việc bà Q, ông Lân thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho Ngân hàng Đông Á biết về nơi cư trú, nơi làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự”. Tòa án đã tiến hành tống niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bà Q, ông Lân theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 và tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Đông Á có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Lê Thị Bích Q, người liên quan ông Võ Bửu Lân đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Ngày 29/9/2020, giữa Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Nha Trang với bà Lê Thị Bích Q có ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130, với tổng hạn mức cấp tín dụng: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng (Từ ngày 29/9/2020 đến ngày 29/9/2021); Lãi suất vay: 12%/năm; Mục đích vay: để sản xuất, kinh doanh cá thể và hộ gia đình; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; Tài sản đảm bảo: Tín chấp; Số tiền trả góp hàng tháng: 2.000.000 đồng/tháng trong vòng 11 tháng đầu, tháng 12 (tháng cuối) trả 4.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Đông Á đã giải ngân số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) cho bà Q thông qua tài khoản thẻ của bà Q. Quá trình vay, bà Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 12.000.000 đồng (Gốc: 10.246.153 đồng, lãi trong hạn: 1.753.847 đồng); Và số nợ còn lại là 14.594.209 đồng, trong đó nợ gốc: 9.753.847 đồng, nợ lãi trong hạn: 646.153 đồng và lãi quá hạn: 4.194.209 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà Q phải thanh toán một lần số nợ còn lại, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Và tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng nói trên kể từ ngày 30/9/2023 cho đến khi bà Q trả hết nợ. Đồng thời, Ngân hàng Đông Á yêu cầu ông Võ Bửu Lân trả nợ thay cho bà Q theo đúng cam kết của người bảo lãnh, được ghi nhận tại Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 10/9/2020 giữa Ngân hàng với bà Q và ông Lân, trong trường hợp bà Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Đông Á.
[2.2] Tòa xét:
Việc giao kết hợp đồng, thỏa thuận lãi suất giữa Ngân hàng Đông Á với bà Lê Thị Bích Q là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Do vậy, Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130 ngày 29/9/2020 có đủ điều kiện để phát sinh hiệu lực, các chủ thể tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện các thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng.
Từ ngày 29/9/2021, bà Lê Thị Bích Q không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận nên Ngân hàng Đông Á đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay sang nợ quá hạn là đúng quy định tại khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) của Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130 ngày 29/9/2020. Việc bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do vậy, nguyên đơn Ngân hàng Đông Á khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Bích Q phải thanh toán số nợ tính đến ngày 29/9/2023: Nợ gốc: 9.753.847 đồng, nợ lãi trong hạn: 646.153 đồng và lãi quá hạn: 4.194.209 đồng; Tổng cộng:
14.594.209 đồng (Mười bốn triệu năm trăm chín mươi tư ngàn hai trăm lẻ chín đồng) là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đã ký, phù hợp qui định của Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên được chấp nhận.
Ngoài ra, vào ngày 10/9/2020 giữa Ngân hàng Đông Á với bà Lê Thị Bích Q và ông Võ Bửu Lân (Là con của bà Q) có ký Giấy Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay; Theo nội dung được ghi nhận tại mục IV (Phần cam kết của người bảo lãnh) thể hiện: Ông Lân cam kết trong trường hợp bà Q không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Ngân hàng Đông Á, thì ông Lân sẽ trả nợ thay cho bà Q cho đến khi hết nợ vay tại Ngân hàng. Thỏa thuận trên của ông Lân là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bên được bảo lãnh (bà Q) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh (ông Lân) phải thực hiện nghĩa vụ đó. Do vậy, Ngân hàng Đông Á yêu cầu ông Lân phải trả nợ thay cho bà Q trong trường hợp bà Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; [3.1] Án phí:
- Bị đơn bà Lê Thị Bích Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn nợ 14.594.209 đồng; Cụ thể: Ông Phước phải chịu án phí dân sự sơ thẩm:
14.594.209 đồng x 5% = 730.000 đồng (Bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Đông Á số tiền tạm ứng án phí 326.000 đồng (Ba trăm hai mươi sáu ngàn đồng) mà Ngân hàng Đông Á đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011599 ngày 12/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
[3.2] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Đông Á được chấp nhận nên bị đơn là bà Lê Thị Bích Q phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng), với số tiền 4.140.000 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng). Ngân hàng Đông Á đã tạm ứng chi phí này nên bà Lê Thị Bích Q có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền 4.140.000 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng) cho Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 335; Điều 336; khoản 1 Điều 342; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.
1.1. Bà Lê Thị Bích Q có nghĩa vụ thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á số tiền còn nợ (Tính đến ngày 29/9/2023) là: 14.594.209 đồng (Mười bốn triệu năm trăm chín mươi tư ngàn hai trăm lẻ chín đồng); Trong đó:
- Gốc: 9.753.847 đồng;
- Lãi trong hạn: 646.153 đồng;
- Lãi quá hạn: 4.194.209đồng;
Và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, tính từ ngày 30/9/2023 cho đến khi bà Lê Thị Bích Q thanh toán hết nợ gốc, theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (Có đối tác liên kết) số 00748142/0136956001T20130 ngày 29/9/2020.
1.2. Trường hợp bà Lê Thị Bích Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á, thì ông Võ Bửu Lân phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Q, theo đúng cam kết của người bảo lãnh được ghi nhận tại Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đề ngày 10/9/2020, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á với bà Lê Thị Bích Q và ông Võ Bửu Lân.
2. Án phí và chi phí tố tụng:
2.1. Án phí:
- Bị đơn bà Lê Thị Bích Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 730.000 đồng (Bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á số tiền tạm ứng án phí 326.000 đồng (Ba trăm hai mươi sáu ngàn đồng) mà Ngân hàng Đông Á đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011599 ngày 12/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
2.2. Chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Bích Q có nghĩa vụ thanh toán số tiền 4.140.000 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
4. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 119/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 119/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về