Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 112/2020/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 112/2020/DS-ST NGÀY 25/03/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 25 tháng 03 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 415/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 06 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-DS ngày 02 tháng 03 năm 2020 giữa các đương sự:

Ngun đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (Tên công ty viết tắt VPBFC).

Trụ sở chính: , Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lô Bằng G, sinh năm: 1972. Chức danh: Chủ tịch hội đồng thành viên. (Vắng mặt) Ông Lô Bằng G ủy quyền cho: Bà Nguyễn Thị Thanh T – Chức vụ: Trưởng nhóm Tố tụng – Phòng Thu Hồi Nợ Pháp Lý - Trung Tâm Thu Hồi Nợ (Theo văn bản ủy quyền số 136/UQ-VH.18 ngày 29/8/2018 của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC)). (Vắng mặt) Bà Nguyễn Thị Thanh T ủy quyền lại cho ông Đào Đình M – Sinh năm: 1980. Địa chỉ: , quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền số 05.L46.03UQTA-VH.19 lập ngày 13/05/2019 của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC)). (Vắng mặt)

Bị đơn Bà Trần Kim N, sinh năm: 1973 (Vắng mặt) Địa chỉ: xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 05 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có ông Đào Đình M trình bày như sau:

Ngày 19/06/2015 bà Trần Kim N có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20150619-100185-0062 với Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V để vay số tiền 22.048.287 đồng (Hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng) với lãi suất vay 4.59%/tháng, để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà N có trách nhiệm thanh toán số tiền 34.044.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 19 tháng; 18 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.764.000 đồng ; tháng cuối trả 2.292.000 đồng. Bắt đầu thực hiện từ ngày 01/08/2015. Bà N đã nhận đủ tiền và đã thanh toán cho Công ty 7.080.000 đồng. Kể từ ngày 29/01/2016 bà N không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào, dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay Công ty yêu cầu bà Trần Kim N trả cho Công ty toàn bộ số tiền nợ 26.964.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc còn lại theo hợp đồng 19.097.018 đồng và nợ lãi còn lại theo hợp đồng 7.866.982 đồng), trả Ngay khi bản án, quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa ông Đào Đình M là đại diện theo ủy quyền lại của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC) vắng mặt và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bị đơn - bà Trần Kim N đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt tại địa chỉ số xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án ; Giấy triệu tập đương sự ; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Trần Kim N vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử mà không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Trần Kim N vắng mặt không lý do.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác minh thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Qua tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tòa án và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định bà Trần Kim N có ký hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng với Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V. Tại phiên tòa bị đơn - bà Trần Kim N vắng mặt không lý do, coi như trốn tránh nghĩa vụ trả tiền vay đối với người khởi kiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền 26.964.000 đồng Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bị đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

[1] Về quan hệ tranh chấp vụ án: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Trần Kim N tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh: “Đương sự bà Trần Kim N, sinh năm: 1973, hiện đăng ký thường trú tại địa chỉ xã T huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thực tế đang cư trú tại địa chỉ trên” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn - ông Đào Đình M vắng mặt tại phiên tòa và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn – bà Trần Kim N vắng mặt tại phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định là Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[4] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

Về các yêu cầu của các đương sự:

[5] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Trần Kim N trả một lần toàn bộ số tiền 26.964.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc 19.097.018 đồng và nợ lãi 7.866.982 đồng), trả Ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[6] Tại phiên tòa bà Trần Kim N vắng mặt, bà N không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả Ngay một lần số tiền vay 26.964.000 đồng. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[8] Tại đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng của bị đơn - bà Trần Kim N có ký hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20150619-100185- 0062 với nguyên đơn - Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC), để vay số tiền 22.048.287 đồng (gồm có 1.149.437 đồng phí bảo hiểm 5.5% giá trị khoản vay), lãi suất cho vay 4,59%/tháng (bị đơn phải trả số tiền 34.044.000 đồng gồm cả gốc và lãi), phương thức trả chậm trong thời hạn 19 tháng (trả hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/08/2015). Bị đơn đã nhận đủ tiền và đã trả được 7.080.000 đồng thì ngưng trả kể từ ngày 29/01/2016. Sau đó bị đơn không liên hệ nguyên đơn để thương lượng thỏa thuận giải quyết số nợ còn thiếu, kéo dài thời gian thanh toán nợ. Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 26.964.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc 19.097.018 đồng và nợ lãi 7.866.982 đồng), trả một lần Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[9] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn. Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 4, Điều 471 và Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC) yêu cầu bà Trần Kim N trả số tiền 26.964.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc 19.097.018 đồng và nợ lãi 7.866.982 đồng), trả một lần Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Buộc bà Trần Kim N trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC) số tiền 26.964.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) (bao gồm: Nợ gốc 19.097.018 đồng và nợ lãi 7.866.982 đồng), trả một lần Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Các đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại Chi cục thi hành án có thẩm quyền.

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Kim N còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí:

Bà Trần Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.348.200 đồng (Một triệu, ba trăm bốn mươi tám nghìn, hai trăm đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (VPBFC) 674.100 đồng (Sáu trăm bảy mươi bốn nghìn, một trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0002188 ngày 05/06/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

106
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 112/2020/DS-ST

Số hiệu:112/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về