Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 110/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 110/2024/DS-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử vụ án Dân sự thụ lý số 387/2024/DSST ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐST-XX ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Công ty T1 - Người đại diện theo pháp luật ông LEE YUN H, chức danh Tổng giám đốc.

Địa chỉ: I P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L1 - Người đại diện theo pháp luật ông Cồ Lê H (văn bản uỷ quyền số 09/2024/GUQ-MAFC , ngày 02-5-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V,Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Bá L(Văn bản uỷ quyền 106/GUQ- 2024, ngày 05-7-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Chị Trương Thị Mỹ H1, sinh năm 1984 Địa chỉ: 1 N, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu( vắng mặt đến lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22-5-2024 và qua quá trình làm việc, đại diện Công ty T1 “Tên viết tắt Công ty T1” trình bày:

Nội dung: Công ty T1 đề nghị Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét giải quyết buộc chị Trương Thị Mỹ H1 thanh toán toàn bộ khoản vay, bao gồm dư gốc, lãi và phí tạm tính đến ngày 20-8-2024 là 45.000.682đ(Bốn mươi lăm triệu không trăm sáu trăm tám mươi hai đồng).

Ngày 07-11-2022, Công ty T1 tên viết tắt là “Công ty T1” ký Hợp đồng tín dụng số: 3632557 về việc cấp tín dụng chị Trương Thị Mỹ H1 với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng(Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng); trong đó bao gồm: 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 42% năm.

Theo đó, chị Trương Thị Mỹ H1 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 2.025.976 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10-10-2022 đến ngày 10-9- 2024.

Sau khi ký kết, Công ty T1 đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho chị H1 với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà chị T đã cũng cấp. Qua đó, chị H1 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T1 theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên vào ngày 24 hàng tháng.

Tuy nhiên, từ ngày 16-3-2023 chị H1 đã ngừng thanh toán khoản vay cho phía Công ty T1 mặc dù phía Công ty đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gọi điện liên hệ để đề nghị chị H1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi tích cực nào từ phía chị H1 về việc thanh toán khoản vay đã quá hạn trên.

Tính đến thời điểm hiện tại, chị Trương Thị Mỹ H1 chỉ thanh toán được 06 kỳ với tổng số tiền 12.216.302 đồng (Mười hai triệu hai trăm mười sáu ngàn ba trăm lẻ hai đồng); trong đó nợ gốc trả được 4.096.008đ và nợ lãi là 8.120.294 đ.

Việc chị H1 cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo thỏa thuận trong “Hợp đồng tín dụng” mà đôi bên ký kết đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1.

Tính đến ngày 20-8-2024, chị Trương Thị Mỹ H1 đã trễ hạn, không thanh toán các khoản tiền như sau:

+ Số nợ gốc còn lại phải thanh toán: 25.903.992 đồng;

+ Số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả là: 19.096.690đ Tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi yêu cầu bị đơn chị T phải trả là 45.000.682đ Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 không chấp hành theo giấy triệu tập làm việc của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; chị H1 vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu phát biểu:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về việc thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.1]Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên Tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.

[1.2] Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Công ty T1 đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

[2] Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 đối với bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Công ty T1 được cấp gấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTT1; mã số doanh nghiệp C; đăng ký lần đầu ngày 08- 9-2011, đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 02-4-2024, kèm Giấy phép số 73/GP- NHNN, ngày 12-11-2021, thành lập và hoạt đồng Công ty T1 , được thực hiện các hoạt động của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và cùa Ngân hàng N trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.

Ngày 07-11-2022; Công ty T1 và chị Trương Thị Mỹ H1 ký Hợp đồng tín dụng số 3632557 về việc cho chị H1 vay số tiền 31.980.000 đồng(Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng).

Mục đích vay vốn của chị H1,vay tiêu dùng cho cá nhân; nay xảy ra tranh chấp xác định đây là vụ án Dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” căn cứ Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;

Theo địa chỉ ghi trên Hợp đồng tín dụng thì chị Trương Thị Mỹ H1 cư trú tại số A N, phường C, thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 07-8-2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đưa vụ án ra xét xử bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên Tòa.

Nay phiên Tòa được mở lại bị đơn chị H1 vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan, vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử căn cứ điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1.

Nguyên đơn Công ty T1 có đơn xin xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của nguyên đơn không ảnh hưởng tới phiên xét xử do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn Công ty T1.

[2] Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 45.000.682đ (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi hai đồng). trong đó:

+ Nợ gốc 25.903.992 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn chín trăm chín mươi hai đồng);

+ Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 18.378.390đ(Mười tám triệu ba trăm năm trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm chín mươi đồng);

+Nợ lãi chậm trả: 718.300đ(Bảy trăm mười tám ngàn ba trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày chị Trương Thị Mỹ H1 thanh toán xong khoản nợ.

[3] Xét hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3632557, ngày 07-11-2022; Hội đồng xét xử nhận định: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 kèm theo các tài liệu chứng cứ có đủ cơ sở để nhận định:

Ngày 07-11-2022, chị Trương Thị Mỹ H1 có giao kết với Công ty T1 Hợp đồng tín dụng số 3632557; xét hình thức của hợp đồng được lập thành văn bản do người có thẩm quyền của Công ty T1 và chị Trương Thị Mỹ H1 tự nguyện giao kết.

Tuy chị H1 không trực tiếp ký tên vào Hợp đồng nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số do chị H1 đã đăng ký loại chứng thư số OID-B1.0 -1D do trung tâm D chứng nhận.

Xét thấy; theo Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về giá trị của chữ ký số như sau: “ Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP.Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ- CP quy định chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:

“ Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số đó”;

“ Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chứng sau đây cấp:

+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;

+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số Chính phủ;

+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chữ ký số của chị Trương Thị Mỹ H1 đăng ký và được Trung tâm D cung cấp. Công ty TNHH H2 là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT- CA, theo giấy phép cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng 527/GP-BTTTT, ngày 12-10-2015, của Bộ T2 nên chữ ký số chị H1 đăng ký có giá trị pháp lý.

Xét về nội dung của Hợp đồng tín dụng số 3632557, ngày 07-11-2022 không vị phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý trí tự nguyện của các bên giao kết, phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự ; Điều 122, Điều 123 và Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015; do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3632557, ngày 07-11-2022 giao kết giữa chị Trương Thị Mỹ H1 với Công ty T1 có hiệu lực pháp luật.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 45.000.682đ(Bốn mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi hai đồng);

+ Nợ gốc 25.903.992 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn chín trăm chín mươi hai đồng);

+ Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 18.378.390đ(Mười tám triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm chín mươi đồng);

+Nợ lãi chậm trả: 718.300đ(Bảy trăm mười tám ngàn ba trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày chị Trương Thị Mỹ H1 thanh toán xong khoản nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy; trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Điều 8 của hợp đồng. Bị đơn chị H1 chưa trả được nợ gốc; nợ lãi theo như hợp đồng hai bên đã giao kết. Chị H1 mới trả được 06 kỳ là 12.216.302 đồng (Mười hai triệu hai trăm mười sáu ngàn ba trăm lẻ hai đồng); trong đó nợ gốc trả được 4.096.008đ (Bốn triệu không trăm chín mươi sáu ngàn không trăm lẻ tám đồng) và nợ lãi là là 8.120.294 đ (Tám triệu một trăm hai mươi ngàn hai trăm chín mươi tư đồng).

Bị đơn bị đơn chị H1 đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, không cung cấp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ do bị đơn chị H1 nắm giữ.

[5] Từ nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 đối với bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1; buộc bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 phải trả số tiền 45.000.682đ(Bốn mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi hai đồng) cho nguyên đơn Công ty T1 tính đến ngày 20-8-2024.

Trong đó:

+ Nợ gốc 25.903.992 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn chín trăm chín mươi hai đồng);

+ Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 18.378.390đ(Mười tám triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm chín mươi đồng);

+ Nợ lãi chậm trả: 718.300đ(Bảy trăm mười tám ngàn ba trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 3632557, ngày 07-11-2022 tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày chị Trương Thị Mỹ H1 thanh toán xong khoản nợ cho nguyên đơn Công ty T1.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 có lỗi hoàn toàn nên phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm;

Cách tính án phí:(Từ 6.000.000đ đến 400.000.000đ phải chịu 5% giá trị tài sản tranh chấp).

Về án phí DSST: Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 phải chịu là 2.250.034đ (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn không trăm ba mươi bốn đồng).

Nguyên đơn Công ty T1 được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 1.000.000đ(Một triệu đồng), theo biên lai thu số 0000270, ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố vũng Tàu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 , điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 8, Điều 27 và Điều 73 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 02 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 13.

[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 đối với bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1.

[1.1] Buộc chị Trương Thị Mỹ H1 phải trả cho Công ty T1 số tiền là 45.000.682đ(Bốn mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi hai đồng) tính đến ngày 20- 8-2024;

Trong đó:

+ Nợ gốc gốc 25.903.992 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm lẻ ba ngàn chín trăm chín mươi hai đồng);

+ Nợ lãi trong hạn và quá hạn:18.378.390đ(Mười tám triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm chín mươi đồng);

+ Nợ lãi chậm trả: 718.300đ(Bảy trăm mười tám ngàn ba trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 3632557 ngày 07-11-2022 tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày chị Trương Thị Mỹ H1 thanh toán xong khoản nợ cho nguyên đơn Công ty T1.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[2.1] Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H1 phải chịu 2.250.034đ (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn không trăm ba mươi bốn đồng).

[2.2] Nguyên đơn Công ty T1 được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 1.000.000đ(Một triệu đồng), theo biên lai thu số 0000270, ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố vũng Tàu.

[3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

168
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 110/2024/DS-ST

Số hiệu:110/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về