Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 08/2024/KDTM-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 08/2024/KDTM-ST NGÀY 19/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2022/TLST-KDTM ngày 09/12/2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 10/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2024/QĐST-KDTM ngày 03/5/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 32/2024/QĐST-KDTM ngày 24/5/2024; Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số 74/TB-TA ngày 21/6/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (sau đây gọi là Ngân hàng); địa chỉ: Tầng E Tòa S, số A C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phương Thành L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, địa chỉ nơi làm việc: Tầng E Tòa S C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn; Ông Trần Tiến D, chức vụ: Phó tổng giám đốc Ngân hàng, địa chỉ nơi làm việc: Tầng E Tòa S C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền số 160/2021/GUQ- CT.HĐQT ngày 08/9/2021 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng); ông D ủy quyền lại cho ông Đoàn O, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng chi nhánh Q, bà Nguyễn Thị Phương C, chức vụ Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng chi nhánh Q; cùng địa chỉ nơi làm việc: Số B đường P, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (Theo Giấy ủy quyền số 2447/2021/GUQ-VAB ngày 13/10/2021 và Giấy ủy quyền số 3607/2023/GUQ-VAB ngày 20/11/2023 của Phó tổng giám đốc), bà C có mặt.

* Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 (sau đây gọi là Công ty V2), địa chỉ trụ sở: Số C đường N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Tuấn K, chức vụ: Giám đốc, địa chỉ: Phòng A.4 Tòa nhà IBC, Công trường M, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị V sinh năm 1975, địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2. Ông Tống Văn T sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

3. Ban Q1 và các khu công nghiệp Q (sau đây gọi là Ban quản lý), địa chỉ: Khu đô thị M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện hợp pháp của Ban Q1 và các khu công nghiệp Q: Ông Đàm Minh L1, chức vụ: Phó Trưởng Ban phụ trách, điều hành, địa chỉ nơi làm việc: Khu đô thị M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (theo Quyết định số 354/QĐ- UBND ngày 20/3/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Q), ông L1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của Ngân hàng trình bày:

Ngày 04/02/2010 tại Ngân hàng Q, Ngân hàng đã ký với Công ty V2 hợp đồng tín dụng trung-dài hạn (cho vay theo dự án) số 4175/10/VAB-QNg/HĐTDH và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01-4175/10/VAB- QNg/HĐTDH ngày 26/4/2011 để cho Công ty V2 vay số tiền 7.492.630.000 đồng, mục đích: Đầu tư xây dựng dự án Trung tâm khách sạn, nhà hàng và khu dịch vụ tổng hợp tại khu đô thị V (xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi), phương thức cho vay: Từng lần, phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả hàng quý, 03 tháng 01 lần, phương thức giải ngân: Chuyển khoản hoặc tiền mặt, thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 04/02/2010 đến ngày 04/02/2020, thời gian ân hạn 12 tháng, thời gian trả nợ gốc là 108 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng/kết thúc thời gian ân hạn (nếu có), lãi suất cho vay trong hạn: 1%/tháng (đối với vay bằng VND), 0,65%/tháng (đối với vay bằng vàng), lãi suất vay sẽ được điều chỉnh 03 tháng /lần, lãi suất vay quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Công ty V2 đã nhận đủ số tiền vay và ký giấy nhận nợ Ngân hàng. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản vay trên, Ngân hàng và Công ty V2 đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 4175/10/VAB-QNg/TCTSTTL ngày 04/02/2010 cụ thể như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai tại thửa đất số 696 và 697, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, mục đích sử dụng đất: Đất khu công nghiệp (xây dựng Trung tâm khách sạn, nhà hàng V3 giải trí, thuộc khu Q- Khu K), thời hạn sử dụng:

7941m2 đến ngày 24/8/2056; 1179m2 tạm thời, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Trong quá trình vay, Công ty V2 đã thanh toán cho Ngân hàng 453.724.000 đồng tiền nợ gốc, 693.414.090 đồng tiền nợ lãi, tổng cộng là 1.147.138.090 đồng. Tính đến hết ngày 19/7/2024, Công ty V2 còn nợ Ngân hàng: nợ gốc là 7.038.906.000 đồng; lãi trong hạn: 5.672.404.111 đồng; lãi quá hạn: 15.680.586.619 đồng, tổng cộng là 28.391.896.730 đồng. Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện đối với lãi phạt chậm trả tính đến ngày 25/9/2022 là 11.889.310.780 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty V2 phải trả tổng số tiền 28.391.896.730 đồng đến hết ngày 19/7/2024 và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng. Trường hợp Công ty V2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký để trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty V2 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi hết nợ. Tại Điều 12 của Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp chưa đúng quy định pháp luật nên nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Tại Văn bản trình bày đề ngày 16/01/2023, Biên bản làm việc ngày 31/5/2023; Văn bản trình bày đề ngày 22/11/2023, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty V2 là ông Lê Tuấn K trình bày: Thống nhất với trình bày của Ngân hàng về việc ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp. Bị đơn thừa nhận có nợ và đồng ý trả nợ, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tài sản của Công ty V2 là toàn bộ công trình xây dựng trên đất bao gồm dự án khu nhà hàng, khách sạn và khu vui chơi giải trí đến nay vẫn chưa hoàn thiện nên chưa thực hiện nghiệm thu công trình. Số cây trồng trên đất không phải là tài sản của Công ty V2. Trên thửa đất 696, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi mà Công ty V2 đã thế chấp cho Ngân hàng có xây dựng được một khối công trình dỡ dang chưa hoàn thiện, đã xuống cấp, khối công trình này có một phần xây dựng ngoài phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Công ty V2 sẽ tự nguyện tháo dỡ, đập bỏ nếu Ngân hàng hoặc Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

* Tại Biên bản làm việc ngày 27/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tống Văn T trình bày: Ông là người trồng, sở hữu toàn bộ cây trồng trên thửa đất số 697, tờ bản đồ số 23, tại xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, đối với cây keo ông trồng hơn 03 năm, ông đồng ý đốn chặt cây trả lại mặt bằng cho chủ sử dụng đất. Ông không yêu cầu, ý kiến gì thêm.

* Tại Biên bản làm việc ngày 27/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V trình bày: Bà là người trồng, sở hữu toàn bộ cây trồng trên thửa đất số 696, tờ bản đồ số 23, tại xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, đối với cây keo bà trồng hơn 03 năm, bà đồng ý đốn chặt cây trả lại mặt bằng cho chủ sử dụng đất. bà không yêu cầu, ý kiến gì thêm.

* Tại Biên bản làm việc ngày 11/9/2023, Công văn số 2725/BQL-QLĐT ngày 26/9/2023, Công văn số 3484/BQL-QLĐT ngày 05/12/2023 và Công văn số 2113/ BQL-QLĐT ngày 11/7/2024 của Ban quản lý trình bày ý kiến: Dự án Trung tâm khách sạn, nhà hàng và dịch vụ tổng hợp do Công ty V2 làm chủ đầu tư được Ban quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu ngày 22/01/2007, điều chỉnh lần thứ 01 ngày 18/02/2008, lần thứ 02 ngày 28/5/2008, lần 3 ngày 04/6/2009 và lần 4 ngày 30/12/2011. Dự án được Ban quản lý cấp Giấy phép xây dựng tại văn bản số 08/GPXD-BQL ngày 25/4/2008; cấp gia hạn, điều chỉnh Giấy phép xây dựng tại văn bản ngày 04/02/2010. Công ty V2 đã được UBND tỉnh giao đất có thu tiền sử dụng đất để xây dựng dự án Trung tâm khách sạn, nhà hàng và vui chơi giải trí tại Quyết định số 1877/QĐ-UBND ngày 24/8/2007 và được điều chỉnh tại Quyết định số 271/QĐ-UBND ngày 03/7/2009; Sở tài nguyên và môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/7/2009, với tổng diện tích 9.120m2. Dự án đã được Công ty V2 chấm dứt hoạt động tại Thông báo ngày 16/10/2022 và hồ sơ kèm theo; trên cơ sở đó, Ban quản lý có Thông báo số 386/TB-BQL ngày 22/02/2023 về việc chấm dứt hoạt động dự án. Đồng thời, Ban quản lý có văn bản số 946/BQL-QLTNMT ngày 18/4/2023 gửi Sở T2 xem xét xử lý về đất đai, tài sản trên đất và nghĩa vụ tài chính về đất đối với dự án; tuy nhiên đến nay, Ban quản lý chưa nhận được thông tin liên quan về nội dung này.

*Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thẩm quyền, thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự, thủ tục phiên tòa; nguyên đơn tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty V2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ là 28.391.896.730 đồng (tính đến hết ngày 19/7/2024) đồng trong đó gồm có nợ gốc là 7.038.906.000 đồng; lãi trong hạn: 5.672.404.111 đồng; lãi quá hạn: 15.680.586.619 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng. Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán lãi phạt chậm trả tính đến ngày 25/9/2022 là 11.889.310.780 đồng.Trường hợp Công ty V2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký để trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty V2 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi hết nợ. Hoàn trả cho Ngân hàng tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng đo đạt và xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ Điều 12 Hợp đồng tín dụng trung- dài hạn (cho vay dự án) số 4175/10/VAB-QNg/HĐTDH ngày 04/02/2010 giữa Ngân hàng-chi nhánh Q và Công ty V2, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Tuấn K; ông Tống Văn T, bà Lê Thị V, Ban quản lý vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc Công ty V2 phải thanh toán số tiền còn nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 24/5/2024, người đại diện hợp pháp của Công ty V2 thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng số 4175/10/VAB-QNg/HĐTDH và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01-4175/10/VAB-QNg/HĐTDH ngày 26/4/2011 để vay tiền của Ngân hàng, bị đơn đã nhận đủ tiền vay, thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ gốc là 7.038.906.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến thời điểm Tòa án xét xử, đồng ý tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử. Căn cứ tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho Tòa án và khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc Công ty V2 phải trả tổng số tiền 28.391.896.730 đồng trong đó gồm có nợ gốc là 7.038.906.000 đồng; lãi trong hạn: 5.672.404.111 đồng; lãi quá hạn: 15.680.586.619 đồng đến hết ngày 19/7/2024 và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Công ty V2 đã được Sở T2 thừa ủy quyền Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/7/2009 gồm: Thửa đất số 696, diện tích 5078m2, tờ bản đồ số 23 và thửa đất số 697, diện tích 4042m2, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, mục đích sử dụng đất:

Đất khu công nghiệp; thời hạn sử dụng: Phần diện tích 7.941m2 (gồm 3899m2 thửa đất số 696 và 4042m2 thửa đất số 697), thời hạn sử dụng đến ngày 24/8/2056 và phần diện tích tạm giao 1.179m2 khi nào Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án thì đơn vị phải bàn giao lại đất và không được bồi thường bất kỳ khoản chi phí nào, nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ giải quyết tranh chấp v/v trích đo hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất số 696, 697 do Trung tâm trắc địa và quan trắc môi trường tỉnh Quảng Ngãi thực hiện thì thửa đất 697 có diện tích đất thực tế là 4017,6m2, không có công trình xây dựng trên đất, ranh giới thửa đất có tường gạch xây; thửa đất 696 có diện tích đất thực tế là 5313,0m2, trên đất có một khối công trình xây dựng dỡ dang chưa hoàn thiện, đã xuống cấp, khối công trình này có một phần được đánh ký hiệu STT từ M1,2,3,4 xây dựng ngoài phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty V2 112,5m2. Theo Biên bản làm việc ngày 30/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi và Công văn số 5457/STNMT-QLĐĐ ngày 09/10/2023 của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T2 thì ngày 31/12/2014, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 4080/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần diện tích đất của Công ty V2 quản lý để thực hiện công trình Tuyến đường giao thông trục chính nối trung tâm phía Bắc và phía Nam đô thị Vạn T1, đối với thửa đất 697 có thu hồi 94m2 như vậy thửa đất 697 còn lại diện tích 3948m2, Công ty V2 có tường rào bao quanh khu đất cố định nên không có tình trạng lấn, chiếm, tranh chấp đất, diện tích thực tế thửa đất 697 là 4017,6 m2 có chênh lệch 69,6 m2, diện tích chênh lệch này là do sai sót trong đo đạt. Đối với thửa đất 696, có thu hồi đất 1273 m2 như vậy thửa đất 696 còn lại 3805 m2, tuy nhiên thửa đất 696 hiện nay có diện tích 3886,3m2, diện tích đất tăng lên không phát hiện có tranh chấp hay lấn chiếm, chồng lấn với bất động sản liền kề, Công ty V2 có làm tường rào cố định. Công ty V2 đã sử dụng tiền vay của Ngân hàng để xây dựng khối công trình dự án và được Ban quản lý cấp Giấy phép xây dựng tại văn bản số 08/GPXD-BQL ngày 25/4/2008; cấp gia hạn, điều chỉnh Giấy phép xây dựng tại văn bản ngày 04/02/2010, tuy nhiên phần công trình xây dựng giới hạn bằng các điểm M1,2,3,4 chưa được Ban quản lý cấp điều chỉnh giấy phép xây dựng, Ban quản lý và Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết, Công ty V2 có ý kiến tự nguyện tháo dỡ, đập bỏ nếu Ngân hàng hoặc Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu đối với phần công trình xây dựng không phép này. Người đại diện hợp pháp của Công ty V2 thừa nhận có ký hợp đồng thế chấp thửa đất 696 và 697, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 4175/10/VAB-QNg/TCTSTTL ngày 04/02/2010 với Ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng; đồng ý việc Ngân hàng toàn quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng, hình thức và nội dung của Hợp đồng thế chấp, trình tự và thẩm quyền đăng ký thế chấp là phù hợp theo quy định tại các Điều 342, 348, 351 của Bộ luật dân sự 2005, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tống Văn T, bà Lê Thị V (có cây trồng trên hai thửa đất thế chấp) thống nhất yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì. Người đại diện hợp pháp của Ban quản lý không có đơn yêu cầu khởi kiện độc lập. Ngân hàng yêu cầu trong trường hợp Công ty V2 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty V2 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi hết nợ là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng rút yêu cầu buộc bị đơn thanh toán lãi phạt chậm trả tính đến ngày 25/9/2022 là 11.889.310.780 đồng là tự nguyện, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến phản đối, Tòa án tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, chấp nhận việc rút và đình chỉ đối với yêu cầu của ngân hàng trong vụ án này.

[3] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

[4] Về án phí: Công ty V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng.

[5] Về chi phí tố tụng: Bao gồm chi phí đo đạt 15.700.000 đồng; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng, tổng cộng là 25.700.000 đồng, Công ty V2 phải chịu. Ngân hàng đã nộp tạm ứng và đã chi xong nên buộc Công ty V2 có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 317, 318, 319, 320, 323, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 92, 144, 147, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền còn nợ cụ thể như sau: nợ gốc là 7.038.906.000 đồng (bảy tỷ không trăm ba mươi tám triệu, chín trăm lẻ sáu nghìn đồng); lãi trong hạn:

5.672.404.111 đồng (năm tỷ sáu trăm bảy mươi hai triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn một trăm mười một đồng); lãi quá hạn: 15.680.586.619 đồng (mười lăm tỷ sáu trăm tám mươi triệu, năm trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm mười chín đồng), tổng cộng là 28.391.896.730 đồng (hai mươi tám tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi đồng) theo hợp đồng tín dụng trung-dài hạn (cho vay theo dự án) số 4175/10/VAB-QNg/HĐTDH và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 01-4175/10/VAB-QNg/HĐTDH ngày 26/4/2011 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 (tiền lãi tạm tính đến ngày 19/7/2024).

2. Kể từ ngày 20/7/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện về lãi phạt chậm trả tính đến ngày 25/9/2022 là 11.889.310.780 đồng (mười một tỷ tám trăm tám mươi chín triệu ba trăm mười nghìn bảy trăm tám mươi đồng).

4. Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 4175/10/VAB-QNg/TCTSTTL ngày 04/02/2010 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 bao gồm thửa đất số 696 và 697, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi và tài sản gắn liền với đất, mục đích sử dụng đất: Đất khu công nghiệp (xây dựng Trung tâm khách sạn, nhà hàng V3 giải trí, thuộc khu Q- Khu K), thời hạn sử dụng: 7941m2 đến ngày 24/8/2056; 1179m2 tạm thời, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AP 887164, số vào sổ cấp GCN: T01331 và số phát hành AN 798181, số vào sổ cấp GCN: T01330 do Sở tài nguyên và môi trường thừa ủy quyền Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/7/2009 để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1. Hợp đồng thế chấp được Ban Q1 xác nhận ngày 05/02/2010; đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T2 ngày 05/02/2010. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đến khi hết nợ (Phần đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 696 và 697, tờ bản đồ số 23, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có sơ đồ kèm theo bản án là một bộ phận không tách rời bản án).

5. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền 71.443.208 đồng (Bảy mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm lẻ tám đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004274 ngày 30/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 phải chịu 136.391.897 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn V2 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 25.700.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng mà Ngân hàng đã tạm ứng và đã chi xong.

8. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự, điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

78
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 08/2024/KDTM-ST

Số hiệu:08/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:19/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về