TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 08/2024/DS-ST NGÀY 16/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2020, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2023/QĐXXST-DS ngày 04/12/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 158/2023/QĐST-DS ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Ngân hàng P1) Địa chỉ: số B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đình L - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: ông Mai Xuân T - Chức vụ: Giám đốc khối quản lý và tái cấu trúc tài sản.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
Ông Nguyễn Quốc H - Phó giám đốc quản lý khách hàng cá nhân khu vực miền B, khối quản lý và tái cấu trúc tài sản.
Ông Lương Viết T1 - Chuyên viên tố tụng.
(Tại phiên toà có mặt ông Lương Viết TI là đại diện được ủy quyền).
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Công H1, sinh năm 1970. vắng mặt.
+ Bà Phan Thị Phương L1, sinh năm 1977. vắng mặt.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm M, thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1973 và ông Bùi Đức T2, sinh năm 1972, vắng mặt.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: nhà số G, tổ A, B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần Đ trình bày:
Ngày 14/9/2018, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh H3 - Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng P1) và ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 đã ký kết Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017, với số tiền vay 457.000.000 đồng (B1 trăm năm mươi bảy triệu đồng). Theo đó, Ngân hàng P1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 theo Khế ước nhận nợ 78/PVB- NĐ ký ngày 14/9/2017, với số tiền 457.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 48 tháng. Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn: được ghi nhận trong Khế ước nhận nợ. Từ ngày 15/9/2017 đến ngày 14/9/2018, lãi suất bằng 8,49%/năm. Từ ngày 15/9/2018 lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, bằng LSCS + Biên độ 4%/năm, kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần. Trong đó: LSCS là lãi suất tiền gửi Đại chúng lĩnh lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền bằng VND, kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: Theo quy định của Ngân hàng nhưng không vượt quá 10% năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mục đích sử dụng vốn: Vay mua ô tô. Hình thức rút vốn: Chuyển khoản. Phương thức trả nợ: Kỳ trả nợ gốc 01 tháng/kỳ. Kỳ gốc đầu tiên được trả vào ngày 26/10/2017. Số tiền gốc trả từ kỳ 1 đến kỳ 47 là 9.520.000đồng/kỳ. Số tiền gốc trả kỳ 48 là: 9.560.000đồng. Kỳ hạn trả nợ lãi vào ngày 26 hàng tháng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Thế chấp bằng 01 Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, Số loại xe Fortuner, màu bạc; số chỗ ngồi 07; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X; Do Phòng C1 Công an thành phố H cấp 13/9/2017 cho ông Nguyễn Công H1. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 78/2017/HĐBĐ/PVB-NĐ ngày 14/9/2017.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay: Ngay sau khi ký Hợp đồng cho vay nêu trên, ngày 15/9/2017 Ngân hàng P1 đã thực hiện giải ngân cho ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 tổng số tiền: 457.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản người thụ hưởng: Nghiêm Văn T3, tài khoản số: 1410205207683 tại A - chi nhánh M để thanh toán tiền mua ô tô. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông H1, bà L1 đã trả được cho Ngân hàng P1 tính đến ngày 8/6/2020 tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 45.713.862đồng; trong đó: nợ gốc: 33.123.409đồng; nợ lãi:12.590.453đồng. Ông H1, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng P1 đã rất nhiều lần gửi thông báo, làm việc trực tiếp yêu cầu ông H1, bà L1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay ông H1, bà L1 vẫn không thực hiện. Cụ thể:
- Ngày 15/5/2019, Ngân hàng P1 gửi công văn số 5798/PVB-QL&TCTTS về việc “Vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn” yêu cầu ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ trước ngày 25/5/2019. Tuy nhiên, khách hàng không thực hiện. Ngày 3/6/2020 Ngân hàng P1 gửi công văn số 7106/PVB-QL&TCTTS về việc “yêu cầu tự nguyện bàn giao TSBĐ” trước ngày 01/6/2019 nhưng khách hàng không thực hiện.
- Ngân hàng P1 đã nhiều lần gửi thông báo, làm việc yêu cầu ông H1, bà L1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bàn giao tài sản bảo đảm để Ngân hàng P1 xử lý thu hồi nợ nhưng ông H1, bà L1 vẫn không thực hiện.
- Tài sản bảo đảm nêu trên nhiều lần Ngân hàng P1 đã yêu cầu ông H1 và bà L1 bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý; tuy nhiên ông H1 cho rằng đã chuyển nhượng xe ô tô và khoản vay cho vợ chồng ông T2 và bà B nên không còn trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng nữa.
Tính đến ngày 16/01/2024 ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 còn nợ Ngân hàng P1 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng cho vay nêu trên: 872.324.383 đồng. Trong đó: nợ gốc: 423.876.591 đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389đồng, nợ quá hạn: 356.814.403 đồng.
Vì vậy, ngân hàng đề nghị Toà án:
1. Buộc ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 phải trả cho Ngân hàng P1 toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi và các loại phí phát sinh theo Hợp đồng cho vay, tính đến ngày 16/01/2024, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là: 872.324.383đồng. Trong đó: nợ gốc: 423.876.591đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389 đồng, nợ quá hạn: 356.814.403đồng.
2. Buộc ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 phải trả cho Ngân hàng P1 các khoản nợ lãi, phí phát sinh với mức lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 17/01/2024 cho đến khi tất toán các khoản vay.
3. Trong trường hợp ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng P1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X; Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 78/2017/HĐBĐ/PVB-NĐ
4. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 tại Ngân hàng P1, thì Ngân hàng P1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu nhập hợp pháp của ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 để thu hồi nghĩa vụ còn lại của ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 tại Ngân hàng P1.
Việc ông Nguyễn Công H1 trình bày đã chuyển nhượng khoản vay cũng như đã chuyển nhượng chiếc xe ô tô là tài sản thế chấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Bùi Đức T2 là không có căn cứ. Vì giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô bản chính ngân hàng vẫn đang lưu giữ để bảo đảm cho khoản vay. Cũng như việc chuyển khoản vay giữa vợ chồng ông H1 và vợ chồng ông T2, bà B ngân hàng không nắm được và không được thực hiện tại ngân hàng. Đến nay ông H1 và vợ chồng ông T2, bà B cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc chuyển nhượng khoản nợ và tài sản bảo đảm là xe ô tô được phép của ngân hàng. Ngân hàng P1 yêu cầu ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 phải trả nợ toàn bộ số tiền vay cho Ngân hàng theo hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ hai bên đã ký kết. Trường hợp không trả nợ đề nghị cho xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 vắng mặt tại phiên toà, Ông H1 trình bày tại bản tự khai và biên bản làm việc: ngày 14/9/2017 vợ chồng ông là Nguyễn Công H1 và Phan Thị Phương L1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ với Ngân hàng TMCP Đ. số tiền vay: 457.000.000 VNĐ (Bằng chữ: bốn trăm năm mươi bảy triệu đồng) Thời hạn cho vay: 48 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Mục đích sử dụng số tiền vay: Vay mua ô tô. Lãi suất trong hạn: Theo từng khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: 01 Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X; theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 78/2017/HĐBĐ/PVB-NĐ.
Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng ông bà vẫn trả nợ gốc, nợ lãi theo đúng quy định đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay. Đến cuối năm 2018, do không còn khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên cán bộ phụ trách khoản vay là anh Lê Xuân T4 có trao đối với vợ chồng ông, bà bàn giao lại chiếc xe ô tô đã thế chấp với Ngân hàng P1 cho vợ chồng ông T2 và bà B, địa chỉ: thôn B, P, H, Hà Nội. Vợ chồng ông T2, bà B có trách nhiệm thanh toán khoản vay nợ còn lại của vợ chồng ông với Ngân hàng. Anh Lê Xuân T4 có dẫn vợ chồng ông bà và vợ chồng ông T2, bà B đến Văn phòng C2 (số nhà B TT4, khu đô thị V, H, Hà Nội) để kí thủ tục sang tên và chuyển nhượng khoản vay tại Văn phòng C2. Nhưng vợ chồng ông không có giấy tờ gì liên quan đến việc sang tên, chuyển nhượng khoản vay trên tại Văn phòng công chứng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà phải trả nợ toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay kể từ ngày 09/06/2020 đến ngày thực trả hết toàn bộ khoản vay. Quan điểm của ông là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện chiếc xe ô tô trên vợ chồng ông đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 và bà B, vợ chồng ông không còn sở hữu chiếc xe ô tô TOYOTA Fortuner trên. Đề nghị tòa án căn cứ lời khai của ông để giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông tại tất cả các buổi làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như phiên tòa xét xử các cấp. Các văn bản tố tụng của tòa án gửi ông đều được nhận đầy đủ và không có ý kiến gì thêm. Hiện vợ ông là Phan Thị Phương L1 vẫn là vợ chồng hợp pháp. Quan điểm của ông cũng là quan điểm của bà L1. Bà Phan Thị Phương L1, Toà án đã làm các thủ tục triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật để tiến hành lấy lời khai nhưng bà L1 vẫn vắng mặt và không ý kiến phản hồi.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Bùi Đức T2 vắng mặt trình bày tại biên bản lấy lời khai và biên bản hoà giải: giữa chồng ông bà và ông Nguyễn Công H1 có quan hệ bạn bè với nhau. Việc vợ chồng ông có nhận chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X, không có giấy tờ xe. Xe ô tô vợ chồng ông bà quản lý nhưng không mang về toà án để cung cấp cho toà án, cũng như không có giấy tờ mua bán gì giữa vợ chồng ông bà và vợ chồng ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1. Việc bà B, có đơn trình báo gửi về việc cán bộ ngân hàng Lê Xuân T4 nhận số tiền 193 triệu đồng để tất toán khoản vay ô tô, mang tên Nguyễn Công H2 tại Ngân hàng P1 là do ông Nguyễn Công H1 tự đánh đơn đưa cho bà ký. Sau đó, ông H1 tự mang đi đến Toà án gửi, bà không gửi đơn đến các cơ quan chức năng. Việc giao dịch chiếc xe ô tô của vợ chồng bà với vợ chồng ông H1 và bà L1 chỉ giao dịch bằng miệng không có giấy tờ gì, vợ chồng ông bà chỉ sử dụng xe để đi. Toà án báo vợ chồng ông bà đến toà làm việc liên quan đến vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X. Vợ chồng ông bà chỉ sử dụng xe ô tô không liên quan đến khoản nợ của vợ chồng ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 vay của Ngân hàng P1. Việc cán bộ ngân hàng Lê Xuân T4 nhận tiền của vợ chồng ông bà, vợ chồng ông bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Vợ chồng ông bà sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án khác khi vợ chồng ông bà có yêu cầu. Đề nghị không đưa vợ chồng ông bà vào tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, vì vụ án liên quan đến Ngân hàng P1 yêu cầu ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 trả nợ tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Vợ chồng ông bà chỉ sử dụng xe ô tô đến khi nào toà án xét xử sẽ trả lại xe ô tô cho ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 để đảm bảo việc thi hành án.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ gồm:
Văn phòng Công chứng Bùi Hữu Dũng thành phố H cung cấp tại Công văn số: 26/CV-VPCC ngày 07/5/2021 cung cấp: Văn phòng Công chứng Bùi Hữu Dũng thành phố H, trụ sở: L1 khu Trung tâm hành chính quận H (tên cũ: Văn phòng C2, trụ sở: ô 26, TT4, khu đô thị V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội): Qua kiểm tra hệ thống Uchi của Sở tư pháp, thành phố Hà Nội. Văn phòng công chứng không thực hiện giao dịch Hợp đồng mua bán xe ô tô giữa ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 với ông T2, bà B liên quan đến xe ô tô con mang biển kiểm soát 30A- X, nhãn hiệu TOYOTA, số loại xe Fortuner, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357.
Phòng C1 Công an thành phố H cung cấp tại công văn số: 2522/PC08-ĐKX ngày 22/9/2021: Ngày 13/8/2015 Phòng C1 thông - Công an T giải quyết đăng ký sang tên chuyển vùng từ Nghệ An về Hà Nội cấp biển số 30A-X cho xe ô tô con, nhãn hiệu TOYOTA, số loại xe Fortuner, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357; chủ xe Nguyễn Văn P, địa chỉ: B ngõ A- TT Công ty C3- B - L - Hà Nội. Ngày 13/9/2017, Phòng C4- CAHN đăng ký sang tên xe ô tô trên cho chủ xe mới: Nguyễn Công H1, địa chỉ: M-L-B-M-Hà Nội. Đến thời điểm hiện tại, Phòng CSGT- CAHN chưa tiếp nhận, giải quyết bất kỳ thủ tục nào về việc sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô trên của chủ xe Nguyễn Công H1.
Ngân hàng TMCP Đ (P1) cung cấp tại công văn số 18753/PVB-QL&TCTTS ngày 24/8/2023 cung cấp: thời điểm 2017-2019 anh Lê Xuân T4 công tác tại Ngân hàng: chức vụ chuyên viên khách hàng cá nhân - P1 chi nhánh N. Anh T4 được giao phụ trách quan ký khoản vay của khách hàng Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 tại Ngân hàng P1. Đối với mỗi khoản vay của khách hàng tại Ngân hàng, chỉ khi nào khách hàng thực hiện tất toán hợp đồng cho vay và hoàn thành nghĩa vụ tài chính tại ngân hàng thì Ngân hàng mới thực hiện giải chấp tài sản cho khách hàng theo đúng quy định. Ngân hàng P1 không biết sự việc anh T4 dẫn khách hàng chuyển khoản nợ, xe ô tô thế chấp và cũng không giao cho nhân viên làm việc như vậy. Anh T4 đã nghỉ việc tại Ngân hàng P1 từ năm 2019 và Ngân hàng không biết anh T4 đang thường trú/tạm trú ở đâu. Đối với giấy tờ vay nợ tiền giữa anh T4 và bà B là mối quan hệ vay mượn cá nhân không liên quan đến Ngân hàng. Tài sản bảo đảm là xe ô tô đã được đăng ký thế chấp theo quy định, hiện Ngân hàng vẫn đang lưu giữ bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Ngân hàng chưa tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm cho ông H1 và bà L1, do vậy chưa có dấu hiệu về việc anh T4 thiếu trách nhiệm trong việc quản lý tài sản bảo đảm và giấy tờ gốc của tài sản. Do vậy, Ngân hàng P1 buộc ông H1 và bà L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hai bên đã ký kết.
Tòa án tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải có đại diện ngân hàng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 và bà B có mặt. Ông H1 và bà L1 đều nhận được văn bản của tòa án nhưng không đến tòa án để làm việc. Toà án ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ gửi cho bị đơn ông H1, bà L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 và bà B để cung cấp: văn bản, hợp đồng liên quan đến việc chuyển nhượng xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, Biển kiểm soát: 30A-X. Cung cấp văn bản thoả thuận nhận chuyển nhượng khoản vay và đưa xe xe ô tô nhăn hiệu TOYOTA, Biển kiểm soát: 30A-X đến Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức để kiểm tra và thẩm định xe ô tô trên. Tuy nhiên các đương sự đều không xuất trình tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án.
Ngân hàng P1 đã xuất trình bản chính để đối chiếu là: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 404499 tên chủ xe Nguyễn Công H1, địa chỉ: M, L, B, M, Hà Nội, đối với xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X đăng ký ngày 13/9/2017 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp.
Tại phiên tòa: Đại diện Ngân hàng P1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có ý kiến gì.
Y kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện hết các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ 2.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P1 buộc bị đơn ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng P1 tính đến ngày 16/01/2024, tổng cộng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 872.324.383 đồng. Trong đó: nợ gốc: 423.876.591đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389 đồng, nợ quá hạn: 356.814.403đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trường hợp ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng cho vay thì Ngân hàng P1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu bạc; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X đăng ký ngày 13/9/2017 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 404499 tên chủ xe Nguyễn Công H1, địa chỉ: M, L, B, M, Ha Nội.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng P1 khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng cho vay đối với ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 nên thuộc tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1, có hộ khẩu thường trú tại: xóm M, thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về pháp luật nội dung: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 phải thanh toán tổng số tiền (tính đến ngày 16/01/2024) là: 872.324.383đồng theo Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ và Khế ước nhận nợ 78/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017. Trong đó: nợ gốc: 423.876.591đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389 đồng, nợ quá hạn: 356.814.403 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về hợp đồng: Ngày 14/9/2017, Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 tự nguyện ký kết Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ và Khế ước nhận nợ 78/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước nhận nợ về số tiền vay: 457.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 48 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hạn trả nợ gốc, lãi/kỳ, mục đích vay: mua xe ô tô, lãi suất, hình thức giải ngân hoàn toàn phù hợp với các điều 116, 117, 119 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 13 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Thống đốc Ngân hàng N1. Xét thấy, tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng, các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ và Khế ước nhận nợ 78/PVB-ND ký ngày 14/9/2017 là hợp pháp, có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng P1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 số tiền 457.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản người thụ hưởng: Nghiêm Văn T3, tài khoản số: 1410205207683 tại A - chi nhánh M để thanh toán tiền mua ô tô. Như vậy, Ngân hàng P1 đã thực hiện đúng, xong nghĩa vụ của mình, về phía bị đơn ông H1 và bà L1 sau khi được giải ngân thực hiện thanh toán tiền mua xe ô tô và đăng ký xe, đồng thời đã thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng P1 kể từ thời điểm giải ngân cho đến hết ngày 25/12/2017 đã trả được tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 45.713.862đồng, trong đó nợ gốc: 33.123.409 đồng, nợ lãi: 12.590.453 đồng. Sau đó, ông H1 và bà L1 không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận của hợp đồng và còn nợ lại số tiền nợ gốc tính đến ngày 16/01/2024 là: 423.876.591 đồng. Theo Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ các bên thỏa thuận: nợ gốc được trả 48 kỳ, mỗi kỳ/tháng từ kỳ 1 đến kỳ 47 là 9.520.000đồng và kỳ 48 trả 9.560.000 đồng; kỳ trả nợ lãi vào ngày 26 hàng tháng. Do ông H1 và bà L1 không thanh toán nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và khế ước nhận nợ.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả nợ số tiền nợ gốc còn lại: 423.876.591 đồng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Việc ông H1 cho rằng đã chuyển khoản nợ trên cho ông T2 và bà B là không có căn cứ. Vì trong hợp đồng và khế ước nhận nợ hai bên không có thỏa thuận việc chuyển khoản nợ cho bên thứ ba. Cũng như không được thực hiện tại Ngân hàng P1 và Ngân hàng không biết, không đồng ý cho bên thứ ba nhận khoản nợ. Ông H1 cũng không xuất trình giấy tờ chuyển nhượng khoản vay trên. Đồng thời ông T2 và bà B trình bày không liên quan đến Ngân hàng P1 đòi nợ vợ chồng ông H1 và bà L1 vay theo hợp đồng tín dụng. Việc bà B có đơn trình báo việc cán bộ ngân hàng Lê Xuân T4 nhận số tiền 193 triệu đồng của bà để tất toán khoản vay chiếc xe ô tô mang tên ông Nguyễn Công H1 tại Ngân hàng là do ông H1 tự đánh đơn đưa bà ký và ông H1 tự đi gửi. Ông bà là bạn của ông H1, hiện nay chỉ sử dụng xe ô tô của ông H1, bà L1 không có giấy tờ mua bán giữa hai bên. Vợ chồng ông bà sử dụng xe ô tô đến khi nào tòa án xét xử sẽ trả lại xe cho ông H1 và bà L1 để đảm bảo việc thi hành án. Đối với việc cán bộ ngân hàng Lê Xuân T4 nhận tiền của vợ chồng bà, ông bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Do đó, ý kiến của ông H1 đưa ra đã chuyển khoản nợ trên cho ông T2 và bà B là không có cứ nên không được chấp nhận.
[2.3]. Xét, số tiền nợ lãi:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật...” Xét mức lãi suất trong hạn đối với Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017 và Khế ước nhận nợ 78/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017, các bên thỏa thuận là 8,49%/năm ngày 15/9/2017 đến ngày 14/9/2018. Từ ngày 15/9/2018 lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, bằng LSCS + Biên độ 4%/năm, kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần. Trong đó: LSCS là lãi suất tiền gửi Ngân hàng P1 lĩnh lãi cuối kỳ của khách hàng cá nhân, có loại tiền bằng VND, kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng C từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả lãi: Theo quy định của Ngân hàng nhưng không vượt quá 10% năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Như vậy, thỏa thuận trong hợp đồng về lãi suất giữa Ngân hàng P1 với ông H1 và bà L1 phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Nguyên đơn đã cung cấp các Quyết định về việc ban hành các Biểu lãi suất huy động tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân trước khi ký các hợp đồng tín dụng nên ông H1 và bà L1 đã có thông tin về việc cho vay và lãi suất cho vay, đã được đảm bảo về quyền lợi theo quy định của pháp luật. Đối chiếu Quyết định về việc ban hành các Biểu lãi suất huy động tiền gửi dành cho khách hàng và B2 tính lãi (tính đến ngày 16/10/2023) đối với Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017 và Khế ước nhận nợ 78/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017 thì: Nợ lãi trong hạn: 91.633.389 đồng; Nợ quá hạn: 356.814.403 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất được tính và điều chỉnh theo từng thời kỳ, phù hợp với lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố đối với loại cho vay tương ứng với các quy định của pháp luật. Đến nay, bị đơn chưa thanh toán nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi trên là có cơ sở chấp nhận.
Do vậy, yêu cầu đòi nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/01/2024 của Ngân hàng P1 đối với ông H1 và bà L1 được chấp nhận là: Nợ gốc: 423.876.591 đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389đồng, nợ quá hạn: 356.814.403đồng. Tổng cộng: 872.324.383 đồng.
[3]. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại xe Fortuner, màu bạc; số chỗ ngồi 07; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X; Do Phòng C1 Công an thành phố H cấp 13/9/2017 cho ông Nguyễn Công H1. Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 78/2017/HĐBĐ/PVB-NĐ ngày 14/9/2017. Xét Hợp đồng thế chấp đã được các bên tự nguyện ký kết tại Ngân hàng P1 và được lập thành văn bản, các bên chủ thể tham gia giao kết là người có thẩm quyền, cùng thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, nội dung của hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thi hành. Văn phòng công chứng Bùi Hữu D khẳng định không thực hiện việc giao dịch chuyển nhượng liên quan đến xe ô tô trên và Phòng C1 Công an thành phố H khẳng định đến thời điểm hiện tại, Phòng CSGT- CAHN chưa tiếp nhận, giải quyết bất kỳ thủ tục nào về việc sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô trên của chủ xe Nguyễn Công H1. Đồng thời người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 và bà B khẳng định đang sử dụng chiếc xe trên không có giấy tờ xe, đến khi Tòa án xét xử sẽ trả lại xe cho ông H1 và bà L1. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Bùi Đức T2 đang sử dụng xe ô tô trên phải có trách nhiệm bàn giao xe cho ông H1 và bà L1 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Vì vậy, Ngân hàng P1 đề nghị phát mại tài sản theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông H1 và bà L1 không trả được nợ là có căn cứ, hoàn toàn phù hợp với quy định bị xử lý theo Điều 299 của Bộ luật dân sự để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên Tòa hôm nay ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[4]. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
[5]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 135; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 241, khoản 2 Điều 292, 293, 299, 317, 320, 322, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 91; 95; 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1.
2. Buộc ông Nguyễn Công H1 và bà Phan Thị Phương L1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền vay theo Hợp đồng cho vay số 78/2017/HĐTD/PVB-NĐ và Khế ước nhận nợ 78/PVB-NĐ ký ngày 14/9/2017, tính đến ngày 16/01/2024, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 872.324.383 đồng (Tám trăm bảy mươi hai triệu, ba trăm hai mươi tư nghìn, ba trăm tám mươi ba đồng); trong đó: nợ gốc: 423.876.591đồng, nợ lãi trong hạn: 91.633.389đồng, nợ quá hạn: 356.814.403đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại xe Fortuner, màu bạc; số chỗ ngồi 07; số khung: 69G2D9004172; số máy: 2TR7585357 Biển kiểm soát: 30A-X. Do Phòng C1 Công an thành phố H cấp 13/9/2017 cho ông Nguyễn Công H1 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số:78/2017/HĐBĐ/PVB-NĐ ngày 14/9/2017. Trường hợp ông Bùi Đức T2 và bà Nguyễn Thị Thanh B đang sử dụng xe ô tô trên thì phải có nghĩa vụ bàn giao lại xe ô tô để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 vẫn phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ. Trường hợp phát mại tài sản đề thu hồi nợ còn thừa thì Ngân hàng trả lại cho bên thế chấp.
Khi ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 tất toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 các giấy tờ về tài sản thế chấp và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký.
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội, buộc ông Nguyễn Công H1, bà Phan Thị Phương L1 phải chịu 38.196.730 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Trả lại Ngân hàng TMCP Đ 13.331.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0003013 ngày 06/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 08/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 08/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 16/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về