TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN 08/2020/DS-ST NGÀY 17/07/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 17 tháng 07 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2019/TLST-DS ngày 08/01/2019 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-DS ngày 06/8/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2019/QĐST-DS ngày 22/8/2019; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2019/QĐST-DS ngày 11/9/2019; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 42A/2019/QĐST-DS ngày 11/10/2019; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 10/2020/QĐST-DS ngày 03/6/2020; Thông báo mở lại phiên tòa số 15/2020/TB-TA ngày 03/6/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-DS ngày 19/6/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, địa chỉ: Tháp B, 35 H, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ chi nhánh X (quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số: 8695/QĐ- B ngày 28/10/2016 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ); địa chỉ: Đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Phan Thị Thúy H, chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch G - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ chi nhánh Đ (văn bản ủy quyền số 1138/QĐ-BIDV.ĐNO ngày 18/10/2017 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ chi nhánh Đ) - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1985;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5 cũ (nay là Thôn 4), xã D, huyện M, tỉnh Đ.
Nơi tạm trú: Bon J, xã T, huyện S, tỉnh Đ - Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền lại bà Phan Thị Thúy H trình bày: Ngày 28/3/2017, anh Vũ Văn H (CMND số: 245031548 do CA tỉnh Đ cấp ngày 23/7/2015; sinh ngày 10/12/1985; Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5 cũ (nay là thôn 4), xã D, huyện M, tỉnh Đ; Nơi tạm trú: Bon J, xã T, huyện S, tỉnh Đ), vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2017/9580563/HĐTD; số tiền vay: 800.000.000 đồng; thời gian vay: 60 tháng kể từ ngày 28/03/2017; trả nợ gốc làm 05 lần, trả định kỳ 12 tháng/lần số tiền 160.000.000 đồng. Kỳ trả nợ đầu tiên bắt đầu từ ngày 28/03/2018; trả nợ lãi: 02 tháng/lần thu tự động từ tài khoản 6351.0000.586260 vào ngày 01 của tháng.
-Tài sản bảo đảm quyền sử dụng đất số BX 786785, thửa đất số 4, 6 tờ bản đồ số 68, diện tích 20705,0m2, Uỷ ban nhân dân huyện S, tỉnh Đ cấp ngày 03/4/2015, đất tọa lạc tại xã T, huyện S, tỉnh Đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Vũ Văn H đã trả được 89.433.699 đồng tiền lãi, anh H không trả nợ gốc và lãi vay tiếp theo cho Ngân hàng theo đúng hạn như cam kết trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nhưng anh H vẫn không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Các khoản vay trên đã quá hạn, việc nhắc nhở thu hồi nợ không có kết quả và anh Vũ Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay. Ngày 03/11/2018, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc anh Vũ Văn H phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng nói trên số tiền là 884.653.150 đồng (số tiền tạm tính đến ngày 03/11/2018: Nợ gốc: 800.000.000 đồng, Nợ lãi: 84.653.150 đồng) và lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Trường hợp anh Vũ Văn H không trả hết nợ vay, thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu nợ theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn anh Vũ Văn H, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập giải quyết vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại Công an xã D, huyện M, tỉnh Đ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì anh H không có mặt tại địa phương nên chính quyền không biết anh H ở đâu, làm gì. Xác minh tại Công an xã T, huyện S, tỉnh Đ nơi đăng ký tạm trú thì anh H đã hết hạn đăng ký tạm trú từ ngày 17/3/2018, anh H không gia hạn tạm trú nên hiện tại không biết anh H ở đâu, làm gì. Tòa án không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh H nên đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng và triệu tập anh H đến Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Vũ Văn H phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 17/7/2020 theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017 tổng số tiền là 1.095.537.259 đồng (sau khi đã trừ số tiền lãi 89.433.699 anh H đã trả), (trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi là 295.537.259 đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay từ ngày 18/7/2020 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu anh Vũ Văn H không trả hết nợ vay thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, việc anh H vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án quyết định xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Vũ Văn Hòa không chấp hành đúng theo yêu cầu, triệu tập của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 299 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối với bị đơn anh Vũ Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 28/3/2017, anh Văn Văn H ký hợp đồng vay số tiền 800.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Đ theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017, thời gian vay 60 tháng kể từ ngày 28/03/2017; trả nợ gốc làm 05 lần, trả định kỳ 12 tháng/lần số tiền 160.000.000 đồng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên ngày 28/03/2018; trả nợ lãi: 02 tháng/lần.
Tài sản anh Vũ Văn H thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Đ theo hợp đồng thế chấp số 01/2017/9580563/HĐTC ngày 27/3/2017 là quyền sử dụng đất số BX 786785, thửa đất số 4, 6 tờ bản đồ số 68, diện tích 20705,0m2, Uỷ ban nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đ cấp ngày 03/4/2015, đất tọa lạc tại xã T, huyện S, tỉnh Đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Vũ Văn H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc anh H phải trả số tiền tổng cộng là 1.095.537.259 đồng, trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/7/2020 là 295.537.259 đồng. Theo như hợp đồng thì quan hệ pháp luật là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại Điều 10 của hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận mọi tranh chấp phát sinh được giải quyết tại Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét đơn nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017, được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đ với anh Vũ văn H, thì các bên ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía anh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu anh H phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 17/7/2020 theo hợp đồng tín dụng nêu trên tổng số tiền là 1.095.537.259 đồng, trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/7/2020 là 295.537.259 đồng và tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay từ ngày 18/7/2020 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.
Đối với bị đơn anh Vũ Văn H, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H để giải quyết vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại Công an xã D, huyện M, tỉnh Đ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì anh H không có mặt tại địa phương nên chính quyền không biết anh H ở đâu, làm gì. Xác minh tại Công an xã T, Huyện S, tỉnh Đ, nơi anh Hòa đăng ký tạm trú thì anh H đã hết hạn đăng ký tạm trú từ ngày 17/3/2018, anh H không gia hạn tạm trú nên hiện tại không biết anh H ở đâu, làm gì. Tòa án không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh H nên đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng và triệu tập anh H đến Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết quyết buộc anh Vũ Văn H phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 17/7/2020 theo hợp đồng tín dụng 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017 tổng số tiền là 1.095.537.259 đồng, trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/7/2020 là 295.537.259 đồng và tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay từ ngày 18/7/2020 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.
[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Đ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[5] Từ những phân tích nhận định trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, buộc anh Vũ Văn H phải trả Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 17/7/2020 theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017 tổng số tiền là 1.095.537.259 đồng, trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/7/2020 là 295.537.259 đồng và tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay từ ngày 18/7/2020 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ được chấp nhận nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Anh Vũ Văn H phải nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 1.095.537.259 đồng = 44.866.118 đồng (làm tròn 44.866.000 đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 19.270.000 đồng tạm ứng án phí mà anh C đã nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000022 ngày 07/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Đ.
[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Căn cứ các điều 157, 158, 161, 162 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:
Anh Vũ Văn Hòa phải nộp toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định tổng cộng số tiền là 10.300.000 đồng. Do Ngân hàng TMCP Đ đã nộp tạm ứng nên anh Vũ Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền 10.300.000 đồng.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 299 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với anh Vũ Văn H.
Buộc anh Vũ Văn H phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh tính đến ngày 17/7/2020 là 1.095.537.259đ (Một tỷ, không trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn, hai trăm năm mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/7/2020 là 295.537.259 đồng.
Kể từ ngày 18/7/2020, anh Vũ Văn H tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh trên số tiền gốc còn nợ gốc là 800.000.000 đồng với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/9580563/HĐTD ngày 28/3/2017 được ký kết giữa anh Vũ Văn H và Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Đ cho đến khi thanh toán xong.
Trường hợp anh Vũ Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản mà anh H đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Tài sản anh Vũ Văn H thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Đ theo hợp đồng thế chấp số 01/2017/9580563/HĐTC ngày 27/3/2017 là quyền sử dụng đất số BX 786785, thửa đất số 4, 6 tờ bản đồ số 68, diện tích 20705,0m2, Uỷ ban nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đ cấp ngày 03/4/2015, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đắk Song, tỉnh Đ.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Căn cứ Điều 157, Điều 158, Điều 161, Điều 162 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:
Anh Vũ Văn H phải nộp toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định tổng cộng số tiền là 10.300.000đ (mười triệu, ba trăm nghìn đồng). Do Ngân hàng TMCP Đ đã nộp tạm ứng nên anh Vũ Văn H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 10.300.000đ (mười triệu, ba trăm nghìn đồng)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc anh Vũ Văn H phải nộp 44.866.000đ (bốn mươi bốn triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 19.270.000đ (mười chín triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí mà anh C đã nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000022 ngày 07/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G (nay là thành phố G), tỉnh Đ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 08/2020/DS-ST
| Số hiệu: | 08/2020/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Gia Nghĩa - Đăk Nông |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 17/07/2020 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về