Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 07/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 07/2024/DS-ST NGÀY 15/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐNG TÍN DỤNG

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-DS ngày 13/12/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số:160/2023/QĐST-DS ngày 29/12/2023, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).

Trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị V1. Đại diện theo ủy quyền: Phạm Tuấn A - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý.

Người được ủy quyền: Ông Lê Thanh L - Trưởng bộ phận xử lý nợ.

Ông Trần Minh T - Chuyên viên xử lý nợ.

Ông Đặng Hồng L1 - Chuyên viên xử lý nợ.

(Tại phiên toà có mặt ông Trần Minh T là đại diện được ủy quyền).

+ Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1984, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1987, Vắng mặt.

Đều trú tại: xóm D, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là mẹ và các con của anh Đặng Văn H đang sinh sống trên nhà đất thế chấp gồm:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1940 (Mẹ đẻ anh H), Vắng mặt.

2. Cháu Đặng Bảo L2, sinh năm 2011 (con ông anh H và chị Q chết năm 2014) do anh H làm đại diện, Vắng mặt.

3. Cháu Đặng Gia H1, Sinh năm 2014 (con ông anh H và chị Q chết năm 2014) do anh H làm đại diện, Vắng mặt.

Đều trú tại: xóm D, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/08/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V trình bày:

Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng V1) cùng ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P đã ký Hợp đồng tín dụng số LN2009182795576 ký ngày 22/09/2020. Số tiền cho vay: 507.000.000 đồng. Thời hạn vay: 120 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn mở rộng phát triển kinh doanh quần áo trẻ em. Lãi suất và kỳ điều chỉnh: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 8,99%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 24/09/2020. Hết thời hạn 12 tháng lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 24/09/2021, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/10/2021. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 2%/năm.

- Lãi suất quá hạn được xác định như sau:

+ Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

+ Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

- Trả nợ tiền gốc và lãi tiền vay: Bên vay phải trả nợ gốc cho bên ngân hàng định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15 (sau đây gọi là kỳ trả nợ gốc). Kỳ trả nợ gốc đầu tiên được trả vào ngày 15/10/2020, tổng cộng gồm 120 kỳ. số tiền nợ gốc mà Bên vay phải trả mỗi kỳ là 4.225.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 4.225.000đồng. Các kỳ trả nợ lãi: Bên vay phải trả tiền lãi cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 (sau đây gọi là kỳ trả nợ lãi). Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/10/2020.

- Tài sản bảo đảm của các khoản vay: Toàn bộ Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 202 nay là 125, tờ bản đồ số 3 nay là 15, diện tích 545m2, địa chỉ xã Đ, M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 520164 do UBND huyện M cấp ngày 20/01/1991 đứng tên bà Nguyễn Thị H2 (Nở); ngày 27/11/2015 tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M đã đăng ký sang tên ông Đặng Văn H theo hồ sơ số 353/TA-01. Tài sản là ông Đặng Văn H được tặng cho riêng. Chi tiết tại Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển sổ 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngay 22/09/2020 tại Văn phòng C, Hà Nội và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M ngày 22/9/2020.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà P đã trả được Ngân hàng V1 các khoản gồm: nợ gốc là 49.357.291 đồng, nợ lãi 35.572.406 đồng và 188.896 đồng lãi chậm trả. Sau đó ông H và bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/08/2021 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 15/01/2024, ông H và bà P còn nợ Ngân hàng V1 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi: 675.262.738 đồng; trong đó: nợ gốc 457.642.709 đồng, nợ lãi trong hạn: 10.780.197đồng, nợ lãi quá hạn: 182.255.672 đồng, lãi chậm trả: 24.584.160 đồng.

Do ông H và bà P đã vi phạm kỳ trả nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận tại điểm c khoản 8 Điều 2 của Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ngày 22/09/2020: “Khoản 8 quy định: “Chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn: Các bên thống nhất rằng bên Ngân hàng có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) chấm dứt cho vay, dừng giải ngân và thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của B vay trước thời hạn trong những trường hợp sau đây: ........C, Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, phí, chi phí và bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào khác đối với Bên Ngân hàng (bao gồm nghĩa vụ trả nợ theo bất kỳ K trả nợ gốc, K trả nợ lãi nào) theo thoả thuận giữa Bên Ngân hàng và Bên vay tại Hợp đồng, điều kiện giao dịch chung và các văn bản thoả thuận liên quan”.

Vì vậy, ngân hàng đề nghị Toà án:

Buộc ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với Ngân hàng V1, trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tính đến ngày 15/01/2024, Ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P còn nợ Ngân hàng V1 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi: 675.262.738đồng; trong đó: nợ gốc 457.642.709đồng, nợ lãi trong hạn: 10.780.197đồng, nợ lãi quá hạn: 182.255.672 đồng, lãi chậm trả: 24.584.160đồng. Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay cho đến ngày ông H và bà P thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng V1.

Trường hợp ông H và bà P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng V1 là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 202 nay là 125; tờ bản đồ số: 3 nay là 15; tại địa chỉ: xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” số A 520164, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00555 QSDĐ/MĐ do UBND huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình cấp ngày 20/01/1991; ngày 27/11/2015 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện M đã đăng ký sang tên cho ông Đặng Văn H và ngày 31/7/2020 Ủy ban nhân dân huyện M xác nhận lại hiện trạng sử dụng đất theo bản đồ dự án tổng thể thửa đất 125, tờ bản đồ số 15, diện tích 545m2; xác định hạn mức đất ở là 300m2, thời hạn sử dụng lâu dài; đất trồng cây lâu năm là 245m2 thời hạn sử dụng đến 15/10/2043. Chi tiết tại Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/09/2020 tại Văn phòng C, Hà Nội.

Trường hợp phát mại tài sản trên không đủ để thanh toán cho nghĩa vụ tại Ngân hàng V1 thì ông H và bà P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi hết toàn bộ nghĩa vụ với Ngân hàng V1.

* Bị đơn ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P vắng mặt tại phiên toà trình bày tại biên bản lấy lời khai: Vợ chồng ông bà có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ký ngày 22/09/2020. Số tiền cho vay: 507.000.000 đồng. Thời hạn vay: 120 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn mở rộng phát triển kinh doanh quần áo trẻ em. Lãi suất và kỳ điều chỉnh: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 8,99 %/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 24/09/2020. Hết thời hạn 12 tháng lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 24/09/2021, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/10/2021. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 2%/năm. Lãi suất quá hạn được xác định như sau: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản bảo đảm của các khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 202 nay là 125; tờ bản đồ số: 3 nay là 15; tại địa chỉ: xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” số A 520164, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00555 QSDĐ/MĐ do UBND huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình cấp ngày 20/01/1991 đứng tên bà Nguyễn Thị H2 (N) là mẹ đẻ của ông H. Ngày 27/11/2015 Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện M đã đăng ký sang tên cho ông Đặng Văn H do được mẹ tặng cho quyền sử dụng đất theo hồ sơ số 353/TA-01. Ông H và Ngân hàng V1 đã ký Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/09/2020 tại Văn phòng C, Hà Nội.

Quá trình sử dụng tiền vay vốn Ngân hàng V1, vợ chồng ông bà đã trả được một phần nợ gốc là 49.357.291 đồng và 35.572.406 đồng tiền lãi. Sau đó do vướng vào dịch Covid19, không kinh doanh được dẫn đến không có thu nhập nên vợ chồng ông không trả được nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận của Hợp đồng.

Tính đến ngày 31/10/2023 còn nợ lại Ngân hàng V1 gồm: Nợ gốc 457.642.709 đồng, nợ lãi trong hạn: 10.780.197đồng, nợ lãi quá hạn 165.274.619 đồng, lãi chậm trả: 20.504.467 đồng. Tổng cộng 654.201.992 đồng. Vợ chồng ông bà mong muốn cùng Ngân hàng T1 trả nợ dần và cùng xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ cho Ngân hàng V1.

Ở trên tài sản thế chấp có vợ chồng ông bà và mẹ đẻ ông là bà Nguyễn Thị N cùng hai con chung với vợ trước Lê Thị Q1 (chết năm 2014) là cháu Đặng Bảo L2, sinh năm 2011 và cháu Đặng Gia H1, sinh năm 2014. Ông và bà P chưa có con chung. Trên đất năm 2014, xây nhà cấp 4, khoảng 100m2, khi xây nhà mẹ ông là bà N có cho ông một phần tiền để xây nhà, còn lại là do ông bỏ tiền ra xây dựng không có ai đóng góp gì. Nhà đất vẫn nguyên hiện trạng không có thay đổi, bổ sung so với thời điểm thế chấp tại Ngân hàng.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị N vắng mặt trình bày tại biên bản lấy lời khai: bà là mẹ của ông Đặng Văn H, năm 2015 bà và ông H xây dựng nhà trên đất và bà đã tặng cho ông H nhà và đất. Hiện nay bà vẫn ở cùng nhà đất trên cùng vợ chồng ông H. Việc vợ chồng ông H và bà P vay nợ Ngân hàng V1 cũng để lo cho bà một phần chạy chữa ốm đau. Nay bà đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho vợ chồng ông H và bà P trả nợ dần vì hoàn cảnh gia đình làm ăn khó khăn, bà đã già không có thu nhập.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ: xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có nhà một tầng, xây dựng năm 2015 và các công trình trên đất đều xây dựng trước thời điểm thế chấp và không có thay đổi gì. Hiện nay ở trên nhà đất thế chấp có vợ chồng ông H, bà P và bà N và con của ông H sinh sống.

Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa: Đại diện Ngân hàng V1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà.

Ý kiến của Kim sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện hết các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ 2.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V buộc bị đơn ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V tính đến ngày 15/01/2024, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 675.262.738 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, bảy trăm ba mươi tám đồng); trong đó: nợ gốc: 457.642.709 đồng, lãi trong hạn: 10.780.197 đồng, lãi quá hạn: 182.255.672 đồng, lãi chậm trả: 24.584.160 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng cho vay thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 202 nay là 125; tờ bản đồ số: 3 nay là 15; tại địa chỉ: Xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” số A 520164, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00555 QSDĐ/MĐ do UBND huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình cấp ngày 20/01/1991 đứng tên bà Nguyễn Thị H2 (Nở); đã được Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện M đăng ký sang tên cho ông Đặng Văn H vào ngày 27/11/2015. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/09/2020 tại Văn phòng C, Hà Nội và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M ngày 22/9/2020.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng đối với ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P nên thuộc tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P, đều trú tại: xóm D, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắn mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2]. Về pháp luật nội dung: Ngân hàng V1 yêu cầu ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P phải thanh toán tổng số tiền (tính đến ngày xét xử 15/01/2024 là: 675.262.738 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ngày 22/09/2020. Trong đó: nợ gốc: 457.642.709 đồng, nợ lãi trong hạn: 10.780.197 đồng, nợ lãi quá hạn: 182.255.672đồng, lãi chậm trả: 24.584.160đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1]. Về hợp đồng: Ngày 22/9/2020, Ngân hàng V1 cùng với ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P tự nguyện ký kết Hợp đồng cho vay số Hợp đồng cho vay số LN2009182795576. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng về số tiền vay là 507.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 120 tháng, hạn trả nợ gốc, lãi/kỳ, mục đích vay: Bổ sung vốn mở rộng phát triển kinh doanh quần áo trẻ em, lãi suất và hình thức giải ngân hoàn toàn phù hợp với các điều 116, 117, 119 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng N1. Xét thấy, tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng, các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 là hợp pháp, có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P số tiền 507.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Như vậy, Ngân hàng V1 đã thực hiện đúng, xong nghĩa vụ của mình. Về phía bị đơn ông H và bà P sau khi được giải ngân đã sử dụng vốn, đồng thời đã thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng V1 kể từ thời điểm giải ngân cho đến hết ngày 16/8/2021, trả nợ gốc: 49.357.291 đồng và trả lãi 35.572.406 đồng và 188.896 đồng lãi chậm trả. Sau đó, ông H và bà P không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận của hợp đồng và còn nợ lại số tiền nợ gốc tính đến ngày 15/01/2024 là: 457.642.709 đồng. Theo thỏa thuận tại điểm a khoản 6 Điều 2 của Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 thì: “Bên vay phải trả nợ gốc cho bên ngân hàng định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15 (sau đây gọi là kỳ trả nợ gốc). Kỳ trả nợ gốc đầu tiên được trả vào ngày 15/10/2020, tng cộng gồm 120 kỳ. Số tiền nợ gốc mà Bên vay phải trả mỗi kỳ là 4.225.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 4.225.000đồng”. Do ông H và bà P không thanh toán tiền nợ gốc nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả nợ số tiền nợ gốc còn lại 457.642.709 đồng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[2.3]. Xét, số tiền nợ lãi:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật... ” Xét mức lãi suất trong hạn đối với Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ký ngày 22/09/2020, các bên thỏa thuận là 8,99%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày 24/09/2020. Hết thời hạn 12 tháng lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 24/09/2021, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/10/2021. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 2%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyền nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Các kỳ trả nợ lãi: Bên vay phải trả tiền lãi cho Bên Ngân hàng theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 (sau đây gọi là kỳ trả nợ lãi). Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/10/2020.

Như vậy, thỏa thuận trong hợp đồng về lãi suất giữa Ngân hàng với ông H và bà P phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Nguyên đơn đã cung cấp các Quyết định về việc ban hành các Biểu lãi suất huy động tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân trước khi ký các hợp đồng tín dụng nên ông H và bà P đã có thông tin về việc cho vay và lãi suất cho vay, đã được đảm bảo về quyền lợi theo quy định của pháp luật. Đối chiếu Quyết định về việc ban hành các Biểu lãi suất huy động tiền gửi dành cho khách hàng và B1 tính lãi (tính đến ngày 15/01/2024) đối với Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ngày 22/09/2020 thì: Nợ lãi trong hạn: 10.780.197đồng, nợ lãi quá hạn 182.255.672đồng, lãi chậm trả: 24.584.160 đồng;

Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất được tính và điều chỉnh theo từng thời kỳ, phù hợp với lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố đối với loại cho vay tương ứng với các quy định của pháp luật. Đến nay, bị đơn chưa thanh toán nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi trên là có cơ sở chấp nhận.

Do vậy, yêu cầu đòi nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 15/01/2024 của Ngân hàng V1 đối với ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P được chấp nhận là: nợ gốc 457.642.709 đồng, nợ lãi trong hạn: 10.780.197 đồng, nợ lãi quá hạn: 182.255.672 đồng, lãi chậm trả: 24.584.160 đồng. Tổng cộng: 675.262.738 đồng.

[3]. Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp: đối với toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 202 nay là 125; tờ bản đồ số: 3 nay là 15; tại địa chỉ: xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” số A 520164, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00555 QSDĐ/MĐ do UBND huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình cấp ngày 20/01/1991; Ngày 27/11/2015 tại Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện M đã đăng ký sang tên cho ông Đặng Văn H và ngày 31/7/2020 Ủy ban nhân dân huyện M xác nhận lại hiện trạng sử dụng đất theo bản đồ dự án tổng thể thửa đất 125, tờ bản đồ số 15, diện tích 545m2; xác định hạn mức đất ở là 300m2, thời hạn sử dụng lâu dài; đất trồng cây lâu năm là 245m2 thời hạn sử dụng đến 15/10/2043. Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/09/2020 tại Văn phòng C, Hà Nội và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M ngày 22/9/2020. Xét Hợp đồng thế chấp đã được các bên tự nguyện ký kết, lập thành văn bản, các bên chủ thể tham gia giao kết là người có thẩm quyền, cùng thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, nội dung của hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M ngày 22/9/2020. Do đó, Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thi hành. Vì vậy, Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông H và bà P không trả được nợ là có căn cứ, hoàn toàn phù hợp với quy định bị xử lý theo Điều 299 của Bộ luật dân sự để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên Tòa hôm nay ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[4]. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

[5]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 135; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 241, khoản 2 Điều 292, 293, 299, 317, 320, 322, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 91; 95; 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Nghị định số: 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP.

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P.

2. Buộc ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2009182795576 ngày 22/09/2020, tính đến ngày 15/01/2024, tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi phải trả là: 675.262.738 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, bảy trăm ba mươi tám đồng); trong đó nợ gốc: 457.642.709 đồng, lãi trong hạn: 10.780.197 đồng, lãi quá hạn: 182.255.672 đồng; lãi chậm trả: 24.584.160 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc, tiền lãi, lãi phát sinh và các chi phí khác được quy định trong Hợp đồng cho vay thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 202 nay là 125; tờ bản đồ số: 3 nay là 15; tại địa chỉ: Xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” số A 520164, Vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00555 QSDĐ/MĐ do UBND huyện M, tỉnh Hà Sơn Bình cấp ngày 20/01/1991 đứng tên bà Nguyễn Thị H2 (Nở); đã được Văn phòng Đ - Chi nhánh huyện M đăng ký sang tên cho ông Đặng Văn H vào ngày 27/11/2015. Ngày 31/7/2020 Ủy ban nhân dân huyện M xác nhận lại hiện trạng sử dụng đất theo bản đồ dự án tổng thể thửa đất 125, tờ bản đồ số 15, diện tích 545m2; xác định hạn mức đất ở là 300m2, thời hạn sử dụng lâu dài; đất trồng cây lâu năm là 245m2 thời hạn sử dụng đến 15/10/2043. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 3571/2020, Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/09/2020 tại Văn phòng c, Hà Nội và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh huyện M ngày 22/9/2020. Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P vẫn phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì Ngân hàng trả lại cho bên thế chấp.

Trường hợp ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P tất toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P các giấy tờ về tài sản thế chấp và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xoá đăng ký.

4. Về án phí: Ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 31.010.500 đồng (Ba mươi mốt triệu, không trăm linh một nghìn, năm trăm đồng).

Trả lại Ngân hàng TMCP V 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0039552 ngày 13/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 07/2024/DS-ST

Số hiệu:07/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về