TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
BẢN ÁN 06/2024/KDTM-ST NGÀY 24/05/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 42/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐ-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 (gọi tắt là M);
Địa chỉ trụ sở: E N, phường L, quận Đ, Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Hoàng L, chức vụ: Tổng giám đốc, là đại diện theo pháp luật.
Ông Bùi Đức Q, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Q1 tín dụng, là người được ủy quyền theo giấy ủy quyền số 12402/2023/UQ-TGĐ12 ngày 29/12/2023 của M.
Ông Trần Huỳnh H; Ông Nguyễn Ngọc A, cùng chức vụ : Giám đốc tố tụng, là người được ủy quyền lại theo giấy ủy quyền số 732/2024/UQ-TGĐ 12 ngày 25/01/2024 của M.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1; Địa chỉ trụ sở: 6 P, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ông Nguyễn Huy T, chức vụ: Tổng giám đốc, là đại diện theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Huy T, sinh năm 1984; địa chỉ: 6 P, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bà Trần Thụy Diễm H1, sinh năm 1984; địa chỉ: 3 L, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt; trong đó, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Huỳnh H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Huỳnh H trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 (gọi tắt là M) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 (gọi tắt là Công ty T1) đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số VAT.xxxxx.00064/2021/HĐTD ngày 18-11-2021 (gọi tắt là Hợp đồng) chi tiết như sau: Hạn mức: 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng); Thời hạn cấp và duy trì hạn mức tín dụng: 36 tháng kể từ ngày 26-10-2021; Mục đích cấp tín dụng: Bổ sung vốn lưu động phát hành bảo lãnh phụ vụ hoạt động kinh doanh thương mại thực phẩm, gạo và đồ dùng gia đình; Lãi suất cho vay: Được tính trên dư nợ gốc thực tế giảm dần và mức lãi suất cho vay được quy định cụ thể tại các Giấy nhận nợ/Khế ước nhận nợ.
MSB đã thực hiện việc giải ngân và Công ty T1 đã thực hiện việc rút vốn vay với tổng số tiền là 1.738.000.000đồng (Một tỷ, bảy trăm ba mươi tám triệu đồng) theo các khế ước nhận nợ cụ thể như sau:
Khế ước nhận nợ lần thứ 01 ngày 08-12-2022: Số tiền : 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi suất: lãi suất thả nổi cho vay kỳ đầu tiên 18,36%/năm, lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo được điều chỉnh theo nguyên tắc giá vốn nội bộ do MSB quy định được công bố tại các điểm giao dịch của MSB cộng biên độ lãi suất tối thiểu 9%/năm; Kỳ điều chỉnh lãi suất 1 tháng/lần; Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Thời hạn vay: 06 tháng; Kỳ hạn trả nợ: 01 tháng/lần vào ngày 26 hàng tháng; ngày trả nợ cuối cùng 08-06-2023.
Khế ước nhận nợ lần thứ 02 ngày 13-12-2022: Số tiền : 385.000.000đồng (Ba trăm tám mươi lăm triệu đồng).
Khế ước nhận nợ lần thứ 03 ngày 23-12-2022: Số tiền : 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng); ngày trả nợ cuối cùng 23-06-2023.
Khế ước nhận nợ lần thứ 04 ngày 18-01-2023: Số tiền : 145.000.000đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng); Riêng lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo được điều chỉnh theo nguyên tắc giá vốn nội bộ do MSB quy định được công bố tại các điểm giao dịch của MSB cộng biên độ lãi suất tối thiểu 4%/năm.
Khế ước nhận nợ lần thứ 05 ngày 03-03-2023: Số tiền : 250.000.000đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng); ngày trả nợ cuối cùng 03/09/2023.
Khế ước nhận nợ ngày 05-04-2023: Số tiền : 320.000.000đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); ngày trả nợ cuối cùng 05-10-2023.
Khế ước nhận nợ ngày 28-04-2023: Số tiền : 158.000.000đồng (Một trăm năm mươi tám triệu đồng); ngày trả nợ cuối cùng 28-10-2023.
Về phần Lãi suất, Thời hạn vay, Kỳ hạn trả nợ của các khế ước nói trên giống như khế ước nhận nợ thứ 01 ngày 08-12-2022;
Biện pháp bảo đảm tiền vay là Giấy cam kết về việc thanh toán thay các nghĩa vụ phát sinh tại MSB ngày 12-06-2023 do ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 ký cam kết có nội dung: Trường hợp Công ty T1 không hoàn thành các nghĩa vụ phát sinh tại M, ông T và bà H1 có trách nhiệm sử dụng các nguồn thu nhập, tài sản cá nhân của mình để đứng ra trả nợ thay cho Công ty T1 và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ các nghĩa vụ phát sinh của Công ty T1 tại M.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng và các khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù, MSB đã nhiều lần liên hệ đôn đốc, gửi thông báo để yêu cầu Công ty T1 trả nợ. Ngày 23-02-2023 là ngày quá hạn khoản vay của Công ty T1 nhưng Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ trả dứt điểm khoản nợ cho MSB. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp và việc thu hồi vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, MSB khởi kiện yêu cầu buộc Công ty T1 phải trả nợ ngay cho MSB tổng số tiền tạm tính đến ngày 24-5-2024 là: 1.316.601.008đồng (Một tỷ, ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm lẻ một nghìn, không trăm lẻ tám đồng), trong đó nợ gốc là : 1.046.089.294đồng; Nợ lãi trong hạn là 190.407.787đồng; Nợ lãi quá hạn là 80.103.927đồng. Ngoài ra, Công ty T1 tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên dư nợ gốc kể từ ngày 25-5-2024 đến khi hoàn tất toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng và các khế ước nhận nợ đã ký. Trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 có nghĩa vụ trả nợ thay cho MSB theo Giấy cam kết “Về việc thanh toán thay các nghĩa vụ phát sinh tại MSB” ngày 12-06-2023 do ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 đã ký kết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vắng mặt, có đơn giữ nguyên các ý kiến trình bày ở giai đoạn trước khi xét xử và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét chứng cứ có trong vụ án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: MSB khởi kiện yêu cầu công ty T1 thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Căn cứ hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ; đơn khởi kiện của nguyên đơn; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nguyên đơn cung cấp; biên bản xác minh của cơ quan công an, có cơ sở xác định bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có địa chỉ như nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng các đương sự này không có ý kiến và chứng cứ nộp cho Tòa án nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.1] Xét yêu cầu trả tiền gốc, lãi của nguyên đơn đối với bị đơn:
Xét thấy: Hợp đồng vay được MSB ký kết với công ty T1 trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vay phát sinh hiệu lực, buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết.
Xét hợp đồng, khế ước nhận nợ các ngày 08-12-2022; 13-12-2022; 23-12-2022; 18-01-2023; 03-3-2023;05-4-2023; 28-4-2023; bản tự khai của nguyên đơn, bảng tính lãi tính đến ngày 24-5-2024 theo từng khế ước nói trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định M và công ty T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số VAT.xxxxx.00064/2021/HĐTD ngày 18-11-2021. MSB đã giải ngân số tiền vay 1.738.000.000 đồng cho công ty T1. Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty T1 đã thanh toán cho M số tiền 829.868.438đồng gồm 691.910.706đồng tiền gốc, 137.957.732đồng tiền lãi; còn nợ lại MSB tính đến ngày 24-5-2024 số tiền 1.316.601.008đồng.
Do công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên MSB khởi kiện yêu cầu công ty T1 thanh toán số tiền 1.316.601.008đồng (Một tỷ, ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm lẻ một nghìn, không trăm lẻ tám đồng), trong đó nợ gốc là: 1.046.089.294đồng; Nợ lãi trong hạn là: 190.407.787đồng; Nợ lãi quá hạn là: 80.103.927đồng và khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc kể từ ngày 25-5-2024 đến khi hoàn tất toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng và các khế ước nhận nợ đã ký là phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Xét khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ của bị đơn cho nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ thì thấy:
Giấy cam kết “Về việc thanh toán thay các nghĩa vụ phát sinh tại MSB” ngày 12-06-2023 do ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 đã ký kết trên cơ sở tự nguyện, có hình thức, nội dung không trái quy định pháp luật, phù hợp theo quy định tại Điều 335, 336 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, căn cứ nội dung Giấy cam kết; Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của bị đơn cho nguyên đơn, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty T1 có trách nhiệm trả nợ cho MSB nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. MSB không phải chịu án phí, hoàn trả cho MSB số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30; điểm b Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 335, 336, 342, 385, 398, 401, 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H3.
2. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 số tiền 1.316.601.008đồng (Một tỷ, ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm lẻ một nghìn, không trăm lẻ tám đồng), trong đó nợ gốc là: 1.046.089.294đồng; Nợ lãi trong hạn là: 190.407.787đồng; Nợ lãi quá hạn là: 80.103.927đồng (tính đến hết ngày 24-5-2024).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (24-5-2024), Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số VAT.xxxxx.00064/2021/HĐTD ngày 18-11-2021 và các khế ước nhận nợ các ngày 08-12-2022; 13-12-2022; 23-12-2022; 18-01-2023; 03-3-2023;05-4-2023; 28-4-2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của bên cho vay.
3. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ghi ở mục 2 phần quyết định của Bản án thì ông Nguyễn Huy T và bà Trần Thụy Diễm H1 có trách nhiệm thanh toán hoàn tất khoản nợ của bị đơn cho nguyên đơn.
4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là: 51.498.030đồng (năm mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi tám nghìn, không trăm ba mươi đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 số tiền 24.200.000đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005482 ngày 29-3-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 06/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 06/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 24/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về