Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 03/2023/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 03/2023/DS-ST NGÀY 29/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 03/2023/TLST-ST ngày 15-3-2023 về việc tranh chấp Hợp đồng tính dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng A Việt Nam, địa chỉ: Số 2 L, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Huy T; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng A Việt Nam – Chi nhánh huyện T, tỉnh Yên Bái, theo văn bản uỷ quyền số: 2665/QĐ- NHNo-PC, ngày 01-12- 2022 của Ngân hàng A Việt Nam. Ông Trần Huy T có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Tổ 6, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, Luật sư thuộc công ty luật TNHH Ngọc T, thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lò Thị S, sinh năm 1962 và ông Hà Văn L, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; ông Hà Văn L có mặt, bà Lò Thị S vắng mặt.

- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1975 và ông Chu Văn H, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Thôn Đêu 03, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H: Ông Hoàng Văn B- Luật sư thuộc công ty luật TNHH Tài T thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; vắng mặt (đã gửi bản ý kiến cho Tòa án).

- Anh Hà Văn A, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đêu 3, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

- Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất thị xã N, tỉnh Yên Bái. Địa chỉ: Tổ 2, Phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

4. Người làm chứng:

- Ông Lò Đình T, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

- Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1975, địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn T, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày: Ngày 12 tháng 12 năm 2018 Ngân hàng A Việt Nam (Agribank) chi nhánh huyện T (viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn Q, địa chỉ tổ 6 (trước đây là tổ 12), phường T, thị xã N đã ký kết hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, theo đó Ngân hàng đồng ý cho ông Q vay số tiền 1.600.000.000 đồng, mục đích để sửa chữa, nâng cấp nhà ở và mua sắm thiết bị nội thất gia đình. Kỳ hạn trả nợ là 36 tháng, lãi suất thỏa thuận tại thời điểm vay vốn là 9,5%/ năm; kỳ hạn trả nợ gốc được chia làm 3 phân kỳ: Kỳ thứ nhất trả 10.000.000 đồng vào ngày 12-12-2018, kỳ thứ hai trả 10.000.000 đồng vào ngày 12-12-2020, kỳ thứ ba trả 1.580.000.000 vào ngày 12/12/2021.

Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Nguyễn Văn Q, bà Lò Thị S và ông Hà Văn L, bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H đã cùng với Ngân hàng ký 03 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất gồm:

1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 04/HĐTC- 2018 thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BU 770181, thửa đất số 16, tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất: Tổ 22, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, diện tích đất là 62 m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 18-8-2014, cấp cho Nguyễn Văn Q.

2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/HĐTC- 2018 thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BQ 043246, thửa đất số 206, tờ bản đố số 27, địa chỉ thửa đất: Thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, diện tích đất là 264,9 m2 hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 09-10-2013, cấp cho ông Hà Văn L và bà Lò Thị S.

3. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/HĐTC- 2018 thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, thửa đất số 874 , tờ bản đố số 13, địa chỉ thửa đất: bản Xa, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, diện tích đất là 120 m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017, cấp cho ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị H.

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng và 03 hợp đồng thế chấp, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Q số tiền 1.600.000.000 đồng vào ngày 12-12-2018. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn Q đã trả tiền lãi đến ngày 30/9/2019 là 122.016.439 đồng. Kể từ ngày 13-12-2019 do không trả nợ gốc phân kỳ là 10.000.000 đồng và không trả lãi kể ngày 01-10-2019 đến ngày 11-11-2020 số tiền là 169.926.370, trong đó nợ trong hạn là 169.490.411 đồng và lãi quá hạn là 435.959 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở thanh toán khoản vay đến hạn nhưng ông Q vẫn không thanh toán. Ngân hàng đã đôn đốc các bên bảo đảm (bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H, bà Lò Thị S và ông Hà Văn L) trả nợ cho khoản vay hiện đang quá hạn phân kỳ gốc và lãi mang tên ông Nguyễn Văn Q. Ngày 11-11-2020 bà Hoàng Thị H có nhờ ông Lò Đình T nộp tiền để Ngân hàng thu hồi nợ và Ngân hàng đã thu hồi số tiền 890.000.000 đồng. Dư nợ còn lại là 710.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi 169.490.411 đồng Ngân hàng đánh giá 02 tài sản thế chấp còn lại là quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Q và quyền sử dụng đất mang tên Lò Thị S, Hà Văn L đủ đảm bảo thanh toán cho dư nợ còn lại nên Ngân hàng đã xuất kho trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng số: CK 745293, thửa đất số 874, tờ bản đố số 13, địa chỉ thửa đất: Bản Xa, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái cho bà Lê Thị Thu H (bà Lê Thị Thu H được bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H ủy quyền).

Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc ông Q phải trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, nhưng ông Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ , tính đến ngày 06/9/2023 tổng dự nợ ông Q còn nợ Ngân hàng là 1.128.659.794 đồng, trong đó nợ gốc là 710.000.000 đồng, lãi trong hạn 359.828.767 đồng, lãi quá hạn là 58.831.027 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp hoặc có văn bản yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng bảo đảm. Tuy nhiên, ông Q vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khoản nợ gốc và lãi, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm, gây khó khăn cho việc thu hồi vốn nhà nước. Do đó Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu: Buộc ông Nguyễn Văn Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, cụ thể ông Q phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2023 là 1.128.659.794 đồng, trong đó nợ gốc là 710.000.000 đồng, lãi trong hạn 359.828.767 đồng, lãi quá hạn là 58.831.027 đồng.

- Thanh toán cho Ngân hàng tiền nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 01/10/2019 đến ngày 06/9/2023 và phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

- Kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm đề nghị phát mại thu hồi nợ.

- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bên vay để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tố tụng và tại đơn phản tố ngày 21-8-2023 và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn Q trình bày: Việc giao kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đúng như nguyên đơn trình bày. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng và 03 hợp đồng thế chấp, Ngân hàng đã giải ngân và ông Q đã nhận đủ số tiền 1.600.000.000 đồng, số tiền này sau đó ông Q đã chuyển vào tài khoản của bà Hoàng Thị H, địa chỉ Đêu 3, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Số tiền ông Q đứng tên vay thực chất là ông Q vay hộ bà H, hàng tháng bà H vẫn trả tiền lãi cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, cụ thể ông phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 06-9-2023 là 1. 128.659.794 đồng, trong đó nợ gốc là 710.000.000 đồng, lãi trong hạn 359.828.767 đồng, lãi quá hạn là 58.831.027 đồng. Ông Q chỉ đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền 260.000.000 đồng và số tiền lãi, số tiền còn lại ông Hà Văn L và bà Hà Thị S phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng vì ông chỉ chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng bằng số tài sản ông đã thế chấp 260.000.000 đồng.

Bị đơn có yêu cầu phản tố: Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017; buộc ngân hàng chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H; buộc ngân hàng phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn L và bà Lò Thị S, cùng thống nhất trình bày:

Năm 2018 ông bà có ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, theo hợp đồng thì ông bà tự nguyện đem toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 043246, tại thửa đất số 206, tờ bản đồ số 27, địa chỉ thửa đất: Thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái và toàn bộ tài sản gắn liền với đất gồm:

01 nhà sàn diện tích xây dựng 200 m2 , diện tích sử dụng là 200 m2 , kết cấu nhà: Khung gỗ, mái lợp brô xi măng, bếp và công trình phụ khép kín, cấp hạng nhà tạm, số tầng 02 tầng, để thế chấp cho Ngân hàng bảo đảm toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp tín dụng là ông Nguyễn Văn Q đối với Ngân hàng (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan). Để ông Q vay Ngân hàng A bà H số tiền 1.600.000.000 đồng, mục đích để sửa chữa, nâng cấp nhà ở và mua sắm thiết bị nội thất gia đình. Kỳ hạn trả nợ là 36 tháng, lãi suất thỏa thuận tại thời điểm vay vốn là 9,5%/năm.

Việc ông bà ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, tỉnh táo. Vào ngày 12-11-2012 ông bà có cho con trai là Hà Văn A 150 m2 đất vườn tạp mà gia đình đã lấp để làm nền nhà ở, việc cho đất có lập biên bản và có xác nhận của UBND xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ. Đến năm 2013 ông bà được UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất là 264,9 m2, thời điểm ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trong hộ khẩu gia đình chỉ có 03 nhân khẩu là ông L, bà S và một người con bị tâm thần tên là Hà Trung D. Đến tháng 6 năm 2020 ông bà đã bán cho bà Nguyễn Thị L ở thôn Đ, xã N, thị xã N 5m mặt đường, sâu 10 m (diện tích đất bán này nằm trong diện tích 150 m2 ông bà đã cho anh Hà Văn A), bán với giá 300.000.000 đồng, bà L đã ứng trả trước 200.000.000 đồng, việc bán đất không thông báo cho Ngân hàng nơi thế chấp biết. Diện tích đất còn lại là 5m mặt đường vào tháng 10 năm 2021 anh Hà Văn A đã làm nhà xây, loại nhà xây 2 tầng, tuy nhiên mới xây xong phần thô chưa hoàn thiện, trị giá nhà xây trên đất hiện nay khoảng 200.000.000 đồng.

Ngày 11-11-2020 bà Hoàng Thị H đã trả cho Ngân hàng số tiền 890.000.000 đồng, Ngân hàng đã trả lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC- 2018. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Q phải thanh toán số tiền theo hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, cụ thể phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2023 là 1.128.659.794 đồng, trong đó nợ gốc là 710.000.000 đồng, lãi trong hạn 359.828.767 đồng, lãi quá hạn là 58.831.027 đồng. Trường hợp ông Q không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp, trong đó có tài sản thế chấp đứng tên bà S, ông L. Do cho bà H mượn sổ đỏ số BQ 043246, để bà H nhờ ông Q đứng tên hợp đồng tín dụng vay tiền Ngân hàng nên bà H phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng.

Bà S, ông L có yêu cầu độc lập: Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD/2018 giữa ông Nguyễn Văn Q với Ngân hàng và tuyên đây là khoản vay của bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H; Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017; buộc Ngân hàng phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H; buộc Ngân hàng phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H trình bày: Vào năm 2017 do cần vốn để đầu tư, sản xuất, kinh doanh xưởng chè nên bà có hỏi ông Nguyễn Văn Q vay số tiền 1.600.000.000 đồng, bà H và ông H đã làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 745293, thửa đất số 874, tờ bản đồ số 13, diện tích 120 m2 ; địa chỉ thửa đất: bản Xa, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, để đảm bảo đảm khoản vay của ông Q. Do hạn mức vay của ông Q là 1.600.000.000 đồng, trong khi tài sản thế chấp của bà H được Ngân hàng định giá là 1.100.40.000.000 đồng, không đủ để đảm bảo cho hạn mức vay tiền, nên ông Q hướng dẫn bà H nhờ bà Lò Thị S và ông Hà Văn L đứng ra thế chấp thêm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 043246; thửa đất số 260; tờ bản đồ số 27; địa chỉ thửa đất tại thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; diện tích đất là 264,9 m2 , mang tên Hà Văn L và Lò Thị S.

Để đảm bảo huy động và thu xếp đủ nguồn tiền, ông Q tiếp tục thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BU 770181; thửa đất số 16; tờ bản đồ số 2; địa chỉ thửa đất tại tổ 22, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; diện tích đất là 62m 2 , mang tên ông Nguyễn Văn Q.

Đến tháng 11 năm 2020 khoản vay của ông Q tại Ngân hàng đến hạn thanh toán, ông Q liên tục thúc giục bà trả tiền và yêu cầu làm theo hướng dẫn của cán bộ tín dụng. Ngày 11-11-2020 bà và ông H đã trả cho Ngân hàng 890.000.000 đồng, đồng thời làm thủ tục giải chấp, rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp trước đó ra khỏi Ngân hàng. Như vậy, bà H còn nợ ông Q tiền gốc 260.000.000 đồng và nợ bà S, ông L số tiền gốc là 450.000.000 đồng.

Tháng 01 năm 2023 ông Q khởi kiện bà ra Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ yêu cầu trả số tiền gốc là 260.000.000 đồng và nợ lãi là 40.000.000. Tại quyết định số 02/2023/QĐST-DS ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã công nhận thỏa thuận theo đó bà và ông H có nghĩa vụ trả cho ông Q tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Ngày 28-3-2023 ông L, bà S khởi kiện bà lên Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ. Tại quyết định số 07/2023/QĐCNHGT-DS ngày 05-5- 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã công nhận thỏa thuận theo đó bà phải trả cho bà S, ông L tổng số tiền là 633.676.500 đồng, trong đó tiền gốc là 450.000.000 đồng, tiền lãi là 183.676.500 đồng. Như vậy khoản nợ gốc, lãi giữa bà và ông Q, bà S và ông L đã được giải quyết tại Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, bà không liên quan gì đến khoản vay của ông Q tại Ngân hàng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn A trình bày: Ông Hà Văn L và bà Lò Thị S có khoảng 265m2 đất ở, địa chỉ thửa đất thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, năm 2012 ông bà đã tặng cho anh khoảng 150m2, bao gồm cả đất trong sổ và đất vườn chưa có sổ. Việc tặng cho đất đã lập biên bản vào ngày 12-11-2012 và chữ ký của anh A, ông L, bà S các con trong gia đình và có sự chứng kiến có ông Lường Văn D là trưởng thôn Đêu 2 và xác nhận của UBND xã Nghĩa An. Khoảng năm 2017 ông bà S L đã cho bà H mượn sổ đỏ của gia đình để thế chấp vay Ngân hàng chi nhánh huyện T. Đến tháng 6 năm 2020 bà H đã hứa hẹn với ông L và bà S là sẽ lấy được sổ đỏ về để trả cho gia đình, vì tin tưởng bà H nên đến tháng 7 năm 2020 ông L bà S đã bán khoảng 60m2 đất trong số 150m2 đất đã cho anh để bán cho bà Nguyễn Thị L tại thôn Đêu 3, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ và ông bà L S đã nhận tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng có biên bản giao nhận tiền. Số tiền bán đất ông bà đã đưa cho anh để làm nhà, sau đó anh A đã xây 01 ngồi nhà 02 tầng trên diện tích khoảng 85m2 đất còn lại mà ông bà S L đã cho trước đó. Ngôi nhà hiện mới chỉ xây xong phần thô chưa hoàn thiện trị giá ngôi nhà khoảng 200.000.000 đồng. Đến thời điểm hiện tại sổ đỏ của gia đình vẫn chưa được bà H trả lại để làm thủ tục tách sổ đỏ cho người mua và tách sổ đỏ cho anh Anh.

Việc ông L bà S cho bà H mượn sổ đỏ của gia đình để thế chấp vay tiền Ngân hàng. Do bà S và ông L bị bà H lợi dụng và bị lừa dối nên anh đề nghị bà H phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng và trả lại sổ đỏ số BQ 043246 cho bà S, ông L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 2020 bà có mua của bà S, ông L 60 m2 đất, diện tích đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 26, tờ bản đồ 27, địa chỉ thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ với giá 300.000.000 đồng, bà đã trả trước cho bà S, ông L 200.000.000 đồng, khi mua có lập giấy viết tay, khi mua đất bà có biết mảnh đất này đang được thế chấp tại Ngân hàng -chi nhánh huyện T, nhưng bà S, ông L hứa sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn 02 tháng sau, vì tin tưởng nên bà đã mua diện tích đất này. Nay Tòa án nhân huyện Trạm Tấu thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Agribank -chi nhánh huyện T với ông Nguyễn Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông L, bà S và có liên quan đến diện tích đất 60 m2 bà đã mua của bà S, ông L. Bà cho rằng việc mua bán đất là không đúng theo quy định của pháp luật, do vậy việc mua bán đất bà và bà S, ông L sẽ tự thỏa thuận với nhau, bà đề nghị được từ chối tham gia tố tụng và đề nghi được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Người làm chứng bà Lê Thị Thu H trình bày: Vào khoảng tháng 11 năm 2020 có nhận ủy quyền của bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H, địa chỉ thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Khi nhận ủy quyền thì bà có ký vào giấy nhận ủy quyền với nội dung bà H thay mặt bà H và ông H làm các thủ tục ký nhận và mọi vấn đề phát sinh liên quan đến việc nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 745293 do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 12/12/2017 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 05603. Trong Giấy ủy quyền có chữ ký của bà H, của ông H, bà H và xác nhận của UBND xã Nghĩa An. Sau khi ký các thủ tục nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Agribank chi nhánh huyện T, tuy nhiên bà không được trực tiếp nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà H, ông H.

Người làm chứng Lò Đình T trình bày: Vào khoảng tháng 11 năm 2020 có được một người nhờ nộp hộ số tiền 890.000.000 đồng vào Agribank- chi nhánh huyện T, do thời gian đã lâu ông không nhờ người nhờ nộp hộ số tiền đó tên là gì, địa chỉ ở đâu, sau khi nộp tiền thì ông có ký vào tờ chứng từ giao dịch tại mục khách hàng.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ. Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu đã ủy thác cho Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ theo đơn của nguyên đơn.

Ngày 13-7-2023 Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 04/HĐTC-2018 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Q trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Tổng diện tích đất đo đạc thực tế là 62 m2 không có sự thay đổi so với diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản trên đất gồm có: 01 cây mít loại A đường kính lớn hơn hoặc bằng 30cm, 03 khóm chuối loại A, 01 nhà vệ sinh xây gạch chỉ tường 110cm, rộng 1,3m, dài 1,1m, cao 2,1m; nền xi măng gạch cao 50cm, cửa gỗ tạp cao 1,56m, rộng 0,6m; lợp mái pro rộng 1,3, dài 2,1m; 01 nhà tắm xây gạch chỉ tường; 01 bể chứa nước rộng 2,0m; 01 khung cửa sắt rộng 2,0m, cao 2,01m. Ngân hàng và ông Q đã thống nhất không định giá các tài sản trên đất này và xác định phần tài sản này vẫn thuộc tài sản thế chấp. Đối với tường rào gạch chỉ 110cm, cao 50 cm bên dưới là móng đá suối cao 40cm, rộng 20cm; tường nhà dài 7,5 m, cao 1,8m xây gạch chỉ 110cm, mái pro rộng 3,3m, dài 8,5m; nền ximăng xây móng bằng đá hốc rộng 0,8 m, dài 8,5 m, cao 0,4 m. Tại phiên tòa ông Q xác định đây là những tài sản của các hộ gia đình liền kề - Ngày 13-7-2023 Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/HĐTC-2018 giữa Ngân hàng với bà Lò Thị S và ông Hà Văn L trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ không thực hiện được vì lý do ông Hà Văn L và bà Lò Thị S không hợp tác, từ chối việc xem xét, thẩm định tại chỗ, không tạo điều kiện cho đoàn công tác thẩm định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ.

Tại biên bản xác minh ngày 07-9-2023, ông Lê Đức T- Giám đốc văn phòng đăng ký đất đai thị xã N cho biết: Hồ sơ xóa thế chấp đối với GCNQSDĐ số CK745293 mang tên Chu Văn H và Hoàng Thị H được UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017 có tổng diện tích là 120 m2 đất ở lâu dài, được lưu tại văn phòng đã được xóa thế chấp ngày 11-11-2020. Việc xoá thế chấp có đầy đủ thủ tục hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 08-9-2023, ông Nguyễn Ngọc H- Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cho biết: Văn phòng đăng ký đất đai huyện T không tiếp nhận và làm thủ tục xoá thế chấp quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 745293 do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21- 12-2017 mang tên Chu Văn H và Hoàng Thị H.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bổ sung số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử (ngày 29-9-2023) buộc bị đơn phải trả tổng số tiền là 1.135.127.603 đồng trong đó số tiền nợ gốc là 710.000.000 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn là: 364.079.041 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn: 61.048.562 đồng.

Bị đơn đề nghị bà Hoàng Thị H phải trả bị đơn số tiền gốc và lãi theo thỏa thuận giữa bị đơn và bà H tại quyết định số 02/2023/QĐST-DS ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ để bị đơn trả cho Ngân hàng, bị đơn chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 260.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền 260.000.000 đồng, số tiền còn lại đề nghị bà S, ông L phải có trách nhiệm trả vì bà S, ông L đã thế chấp quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn L đề nghị bà H phải trả số tiền 633.676.500 đồng để ông bà trả cho Ngân hàng và để nghị Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.

Tại bản ý kiến gửi cho Tòa án, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Thị H có ý kiến: Đối với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn Q thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 04/HĐTD-2018 ngày 12-12-2018, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp không có ý kiến. Đối với các yêu cầu phản tố của ông Q liên quan đến việc tuyên hủy hợp đồng giải chấp đối với tài sản thế chấp tại bản Xa, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái được Ủy ban nhân dân thị xã Nghĩa Lộ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 745293 ngày 21- 12 -2017 đứng tên bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H, là không có cơ sở. Bởi vì: Ngày 11-11-2020, bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 890.000.000 đồng. Đồng thời, bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H cũng đã làm thủ tục giải chấp, rút Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 745293 mang tên bà Hoàng Thị H và ông Chu Văn H ra khỏi Ngân hàng.

Đối với khoản vay của bà H, ông H với ông Q và khoản vay của bà H, ông H với vợ chồng ông Hà Văn L, bà Lò Thị S đã được Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ giải quyết bằng Quyết định số 02/2023/QĐST-DS ngày 31-3-2023 quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và Quyết định số 07/2023/QĐCNHGT – DS ngày 05-5-2023 quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Vì vậy, bà H, ông H không còn liên quan đến khoản vay của ông Q theo Hợp đồng tín dụng số:

04/HĐTD-2018 ngày 12-12-2018 tại Ngân hàng. Đề nghị HĐXX xem xét và chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng Tòa án thụ lý vụ án xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền. Thẩm phán thực hiện việc thu thập chứng cứ, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định về trình tự giải quyết vụ án dân sự, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, vắng mặt tại phiên họp kiểm trả việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa là vi pham quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72, 75 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; căn cứ vào Điều 117, 280, 292, 295, 297, 298, 299, 301, 307, 317, 318, 320, 323, 298, 401, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; căn cứ Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010 ngày 16-6-2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018 ngày 12-12-2018 tính đến ngày xét xử (29-9-2023) tổng số tiền là 1.135.127.603 Trong đó số nợ gốc 710.000.000 đồng; số nợ lãi 425.127.603 đồng (lãi trong hạn là 364.079.041 đồng; lãi quá hạn là 61.048.562 đồng).

Bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Nguyễn Văn Q, ông Hà Văn L và bà Lò Thị S đã thế chấp để vay khoản tiền nêu trên khi họ không tự nguyện thi hành án.

Đối với yêu cầu tuyên bố nếu số tiền thu được từ tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho ngân hàng, thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn Q để thu hồi nợ là quyền đương nhiên của người được thi hành án trong giai đoạn thi hành bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, không cần thiết tuyên trong bản án.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc: Tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp của Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T; yêu cầu thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018; Buộc ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của anh Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H. Buộc ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện Trạm T phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn L và bà Lò Thị S về việc: Tuyên hủy hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018 ngày 12-12-2018 giữa ông Nguyễn Văn Q với ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T; Tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp của Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T; yêu cầu thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018;

Buộc ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của anh Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đúng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H; Buộc ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện T phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định.

4. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 46.053.000 đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 300.000 đồng. Ông Hà Văn L và bà Lò Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập không được chấp nhận là 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại khoản 1 Điều 15 hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, ngày 12-12-2028 có ghi: “…nếu có tranh chấp hai bên sẽ giải quyết bằng thương lượng dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Trong trường hợp không thương lượng, giải quyết được thì tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết tại Tòa án nơi bên A đóng trụ sở”; Bên A Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông nghiệp và thôn Việt Nam- chi nhánh huyện T có trụ sở tại tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Yên Bái. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị S, Chu Văn H, Hoàng Thị H, Hà Văn A, Nguyễn Thị L, Văn Phòng đăng ký đất đai thị xã N; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Hoàng Thị H tại phiên tòa: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 227 bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

2.1 Xét yêu cầu yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc 710.000.000 đồng và nợ lãi 425.127.603 đồng (trong đó lãi trong hạn là 364.079.041 đồng, lãi quá hạn là 61.048.562 đồng) theo hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng số: 04/HĐTD-2018, ngày 12-12-2018 giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn Q có ký hợp đồng cho vay hạn mức là 1.600.000.000 đồng. Người đứng tên người vay trên hợp đồng là ông Nguyễn Văn Q, thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày liền kề của ngày đầu tiên Ngân hàng giải ngân cho ông Q đến ngày 12-12-2021. Mục đích vay: Sửa chữa nhà và nâng cấp nhà ở, mua sắm thiết bị nội thất gia đình. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân số tiền cho vay và ông Nguyễn Văn Q đã nhận đủ số tiền vay 1.600.0000.000 đồng vào ngày 12-12-2018 (theo chứng từ giao dịch, ngày GD: 12/12/2018; liên 1: Ngân hàng; mã số 01GTGT2/8708, ký hiệu: LN/18T, số hóa đơn: 12120047000058, ngày có giá trị: 12-12-2018 SBT: 58).

Xét thấy việc ký kết hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, ngày 12-12- 2018 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Q về hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nên buộc các bên phải thực hiện.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình giải ngân số tiền cho vay, ông Q đã nhận đủ số tiền vay 1.600.000.000 đồng và đã trả được số tiền lãi là 122.016.439 đồng, kể từ 01-10-2019 không trả lãi và đến ngày 13-12-2019 do không trả nợ gốc phân kỳ là 10.000.000 đồng nên khoản vay của ông Q đã chuyển sang nợ quá hạn, lãi và kéo dài tình trạng chậm trả nợ. Ngày 11-11-2020 bà Hoàng Thị H (người có tài sản thế chấp) có nhờ ông Lò Đình T nộp tiền để Ngân hàng thu hồi nợ và Ngân hàng đã thu hồi số tiền 890.000.000 đồng. Dư nợ gốc còn lại là 710.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi 169.490.411 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc ông Q phải trả số tiền gốc và lãi còn lại theo hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, nhưng ông Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ , tính đến ngày 06-9-2023 tổng dư nợ ông Q còn nợ Ngân hàng là 1.128.659.794 đồng, trong đó nợ gốc là 710.000.000 đồng, lãi trong hạn 359.828.767 đồng, lãi quá hạn là 58.831.027 đồng. Xét thấy ông Nguyễn Văn Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và làm phát sinh nợ quá hạn theo điểm đ khoản 2 Điều 9 hợp đồng 04/HĐTD-2018, ngày 12-12-2018. Từ những phân tích nêu trên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần được chấp nhận, buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.135.127.603 đồng trong đó có nợ gốc 710.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 29-9-2023 là 425.127.603 đồng (trong đó lãi trong hạn là 364.079.041 đồng, lãi quá hạn là 61.048.562 đồng) theo quy định tại Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 04/HĐTC- 2018 ngày 12-12-2018 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Q; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05/HĐTC- 2018 ngày 12-12-2018 giữa Ngân hàng với ông Hà Văn L và bà Lò Thị S; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 06/HĐTC- 2018 ngày 12-12-2018 giữa Ngân hàng với ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị H. Hợp đồng đã được hai bên tự nguyện thỏa thuận ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền.

Hợp đồng thế chấp cũng đã được công chứng, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Về hình thức, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nên buộc các bên phải thực hiện.

- Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

1. Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 04/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BU 770181, thửa đất số 16, tờ bản đố số 2, địa chỉ thửa đất: Tổ 22, phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, diện tích đất là 62 m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 18/8/2014, cấp cho Nguyễn Văn Q. Qua xem xét thẩm định tài sản thế chấp giữ nguyên hiện trạng theo hợp đồng thế chấp.

2. Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018; tài sản thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BQ 043246, thửa đất số 260, tờ bản đố số 27, địa chỉ thửa đất: thôn Đêu 2, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái diện tích đất là 264,9 m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 09- 10-2013, cấp cho ông Hà Văn L và bà Lò Thị S. Ngày 13-7-2023 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tuy nhiên quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ không thực hiện được vì lý do ông Hà Văn L và bà Lò Thị S không hợp tác, từ chối việc xem xét, thẩm định tại chỗ, không tạo điều kiện cho đoàn công tác thẩm định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ.

3. Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, thửa đất số 874 , tờ bản đố số 13, địa chỉ thửa đất: bản Xa, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, diện tích đất là 120 m2 hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017, cấp cho ông Chu Văn H và bà Hoàng Thị H. Ngày 11-11-2020, bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 890.000.000 đồng, Ngân hàng đã xuất kho trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293 cho bà H và ông Hậu. Căn cứ điểm 8.2.1, mục 8.2 Điều 8 Hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018 thì hợp đồng này hết hiệu lực thi hành.

Theo khoản 2.1 Điều 2; Điều 4 Hợp đồng thế chấp số 04 và Hợp đồng thế chấp số 05 thì: Bên thế chấp tài sản tự nguyện đem toàn bộ tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp tín dụng là Nguyễn Văn Q; bên A (bên nhận thế chấp) được xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong các trường hợp: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà Nguyễn Văn Q không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và làm phát sinh nợ quá hạn theo điểm đ khoản 2 Điều 9 Hợp đồng 04/HĐTD-2018, ngày 12-12-2018. Căn cứ Điều 299, 301 317, 318, 319, 322, 323 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn; nếu bị đơn không trả được khoản nợ thì phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn, thì nguyên đơn có quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị đơn để thu hồi nợ. Xét thấy, nếu việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho nguyên đơn, thì bị đơn vẫn phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán theo khoản 3 Điều 307 của Bộ luật Dân sự, các quy định của Luật thi hành án dân sự và điểm i khoản 2 Điều 9 Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018 ngày 12-12-2018.

[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Đề nghị tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: CK 745293, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: CH 05603, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017; buộc Ngân hàng phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H; buộc ngân hàng phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

Xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Hợp đồng tín dụng nguyên đơn có quyền áp dụng biện pháp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Xét thấy 11-11-2020 bà Hoàng Thị H trả cho Ngân hàng 890.000.000 đồng, Ngân hàng đã xuất kho trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, sau đó bà H đã đến Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N làm thủ tục giải chấp. Việc bà H trả tiền và Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp điểm 8.2.1, mục 8.2 Điều 8 Hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC-2018.

Bị đơn đề nghị hủy bỏ hợp đồng xóa thế chấp, thu hồi tài sản thế chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng không chứng minh được hợp đồng đề nghị hủy bỏ là hợp đồng nào, Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác định không làm thủ tục giải chấp quyền sử dụng đất cho bà H. Đối chiếu với quy định viện dẫn nêu trên thì sự phản đối của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

[4]. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị S, Hà Văn L:

[4.1] Xét yêu cầu đề nghị tuyên hủy Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018 giữa ông Nguyễn Văn Q với Ngân hàng và đề nghị tuyên đây là khoản vay của bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H với Ngân hàng.

Xét thấy Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018, ngày 12-12-2018 giữa Ngân hàng với Nguyễn Văn Q về hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng. Do đó yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD/2018 và đề nghị tuyên đây là khoản vay của bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H với Ngân hàng, là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[4.2] Xét yêu cầu: Đề nghị tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trạm Tấu thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: CK 745293, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: CH 05603, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017; buộc Ngân hàng phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H; buộc ngân hàng phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp và phải chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

Xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông L không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng, do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Hợp đồng tín dụng nguyên đơn có quyền áp dụng biện pháp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Xét thấy 11-11-2020 bà Hoàng Thị H trả cho Ngân hàng 890.000.000 đồng, Ngân hàng đã xuất kho trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H, sau đó bà H đã đến Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Nghĩa Lộ làm thủ tục giải chấp. Việc bà H trả tiền và Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp điểm 8.2.1, mục 8.2 Điều 8 Hợp đồng thế chấp số 06/HĐTC-2018.

Bà S, ông L đề nghị hủy bỏ hợp đồng thế chấp, thu hồi tài sản thế chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng không chứng minh được hợp đồng đề nghị hủy bỏ là hợp đồng nào; Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trạm T xác định không làm thủ tục giải chấp quyền sử dụng đất cho bà H. Đối chiếu với quy định viện dẫn nêu trên thì yêu cầu của ông L bà S là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Các nội dung khác có liên quan:

Tháng 6 năm 2020 bà S và ông L đã bán cho bà Nguyễn Thị L 5m mặt đường, sâu là 10 m (Diện tích đất bán này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại Ngân hàng), việc bán đất không thông báo cho Ngân hàng nơi thế chấp biết, bán với giá 300.000.000 đồng, bà L đã ứng trả cho ông bà 200.000.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai 07-9-2023 bà Nguyễn Thị L thừa nhận có việc mua bán đất giữa bà L và ông L bà S, nhưng bà L đề nghị không tham gia tố tụng mà đề nghị được tự thỏa thuận với bà S ông L vì việc mua bán đất chỉ lập giấy viết tay và việc mua bán đất này là không đúng quy định của pháp luật. Xét thấy bà L đề nghị không tham gia tố tụng là quyền tự định đoạt của đương sự, nên Tòa án không xem xét.

[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ yêu cầu của nguyên đơn Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 4.202.000 đồng (nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 4.202.000 đồng.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: [7.1] Về án phí:

- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn còn phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận.

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị S và ông Hà Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập không được chấp nhận.

[7.2] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 117, Điều 280, Điều 292, Điều 295, Điều 297, Điều 298, Điều 299, Điều 301, Điều 303; Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010 ngày 16/06/2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 - Căn cứ khoản 2, khoản 5, khoản 6 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Bà H.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T số tiền 1.135.127.603 đồng trong đó có nợ gốc 710.000.000 đồng và nợ lãi 425.127.603 đồng (trong đó lãi trong hạn là 364.079.041 đồng, lãi quá hạn là 61.048.562 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29-9-2023) cho đến khi thi hành án xong bị đơn ông Nguyễn Văn Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp bị đơn ông Nguyễn Văn Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện Trạm T có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 04/HĐTC-2018 ngày 12-12-2018 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05/HĐTC- 2018 ngày 12-12-2018 để thu hồi nợ.

Nếu phát mại tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T thì bị đơn ông Nguyễn Văn Q vẫn phải tiếp tục trả nợ cho nguyên đơn đến khi trả đủ khoản nợ.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn Q về việc:

- Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trạm Tấu thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thể chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: CH 05603, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017.

- Buộc Ngân hàng A Việt Nam- Bà H phải chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông Q là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H.

- Buộc Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp nêu trên và chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị S, Hà Văn L về việc:

- Yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD-2018 giữa ông Nguyễn Văn Q với Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T và đề nghị tuyên đây là khoản vay của bà Hoàng Thị H, ông Chu Văn H với Ngân hàng.

- Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng xóa thế chấp cũng như yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thu hồi và hủy bỏ thủ tục giải chấp đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 745293, số vào sổ cấp GCNQSD đất số: CH 05603, do UBND thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21-12-2017.

- Yêu cầu Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện Trạm T chịu trách nhiệm thu hồi lại tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ CK.745293; số vào sổ cấp GCN CH.05603 cấp ngày 21-12-2017, diện tích 120,0m2; mục đích ONT đứng tên bà Hoàng Thị H cùng ông Chu Văn H.

- Buộc Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T phải bồi thường mọi chi phí thu hồi tài sản thế chấp nêu trên và chịu trách nhiệm đối với tài sản bị giải chấp sai quy định nêu trên đúng pháp luật tương ứng với giá trị thế chấp.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Q phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 4.202.040 đồng làm tròn thành 4.202.000 đồng tiền và phải hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.145.820 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0000632 ngày 14-3-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng A Việt Nam- Chi nhánh huyện Trạm T được chấp nhận, án phí là 46.053.828 đồng và phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận, án phí là 300.000 đồng. Tổng cộng bị đơn ông Nguyễn Văn Q phải chịu 46.353.828 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0000646 ngày 28-8-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Bị đơn ông Nguyễn Văn Q còn phải nộp 46.053.828 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị S và Hà Văn L phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập không được chấp nhận, án phí là 300.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0000647 ngày 30-8-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu. Bà S, ông L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Quyết định, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

63
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 03/2023/DS-ST

Số hiệu:03/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trạm Tấu - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về