Bản án về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng số 29/2024/KDTM-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 29/2024/KDTM-PT NGÀY 30/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THI CÔNG XÂY DỰNG

Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 177/2023/TLPT-KDTM ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 3699/2023/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6013/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 927/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH B Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thị T; cùng địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà D, đường H, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền số 60/UQ-MĐ ngày 11/12/2023).

2. Bị đơn: Công ty CP Đ Trường Lộc Địa chỉ: số 65 Linh Đông, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Minh H; địa chỉ liên lạc: F L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 11/UQ-TL ngày 01/8/2023).

(Tại phiên tòa: Ông C và bà T xin vắng mặt; ông H có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

* Nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/12/2019 Công ty TNHH B (Bên B) (sau đây gọi tắt là Công ty B) ký Hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ với Công ty CP Đ (Bên A) (sau đây gọi tắt là Công ty Đ), với nội dung cụ thể như sau:

- Bên B cung cấp và thi công bê tông dự ứng lực PHC D400A và PHC D600A theo thiết kế của Công ty Đ cho công trình “Khu nhà ở và dịch vụ thương mại B” tại 446 Quốc lộ A, khu phố N, phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương.

- Tổng giá trị hợp đồng tạm tính (gồm VAT): 9.478.658.200 đồng.

- Thanh toán:

+ Đợt 1: Sau 90 ngày kể từ ngày ép xong cọc cuối cùng, Bên A sẽ thanh toán cho Bên B 30% giá trị hợp đồng;

+ Đợt 2: Sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 1, Bên A sẽ thanh toán cho Bên B 30% giá trị hợp đồng;

+ Đợt 3: Sau 30 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 2, Bên A sẽ thanh toán cho Bên B 100% giá trị khối lượng công việc thực tế được nghiệm thu trên công trường sau khi đã trừ đi các khoản tạm ứng và thanh toán.

- Lãi chậm thanh toán: Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu Bên A không thực hiện đúng việc thanh toán theo hợp đồng thì số ngày chậm sẽ phải chịu lãi suất theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng N đối với phần giá trị thanh toán chậm và số ngày thanh toán chậm của đợt đó (Điều 13 hợp đồng).

Thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết, Công ty B đã hoàn thành toàn bộ các nghĩa vụ cam kết, tiến hành cung cấp hàng hóa, thi công ép cọc đảm bảo chất lượng theo đúng tiến độ, thiết kế và tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

Ngày 31/12/2020 Công ty Đ và Công ty B đã ký nghiệm thu khối lượng thi công & cung cấp cọc nội bộ để nghiệm thu khối lượng thi công hoàn thành của Công ty B.

Ngày 14/1/2021 Công ty Đ và Công ty B đã ký Bảng tổng hợp giá trị thanh toán, trong đó ghi nhận:

- Tổng giá trị quyết toán khối lượng công việc thực hiện theo hợp đồng (gồm VAT) là 6.375.490.000 đồng.

- Tổng số tiền Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty B là 1.700.000.000 đồng.

- Số tiền nợ gốc Công ty Đ còn phải thanh toán cho Công ty B là 4.675.490.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về mức bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán của hợp đồng xây dựng như sau: Trong trường hợp bên giao thầu chậm thanh toán thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn áp dụng cho ngày đầu tiên chậm thanh toán do ngân hàng thương mại mà bên nhận thầu mở tài khoản công bo kể từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu.

Căn cứ theo quy định tại Điều 13 hợp, khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ và Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định về lãi suất, Công ty B sẽ tính lãi chậm thanh toán hợp đồng theo mức lãi suất 10%/năm trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán cho đến khi Công ty Đ trả hết khoản nợ cho Công ty B.

Kể từ khi đến hạn thanh toán các hợp đồng nêu trên, mặc dù hai bên đã xác nhận đối chiếu công nợ và Công ty B đã nhiều lần làm việc trực tiếp hoặc đôn đốc bằng văn bản nhưng Công ty Đ vẫn không thực hiện việc trả nợ theo hợp đồng và hồ sơ thanh toán đã ký kết. Việc Công ty Đ không thanh toán đúng hạn và đầy đủ theo cam kết đã gây thiệt hại về kinh tế cho Công ty B.

Do đó, Công ty B khởi kiện yêu cầu Tòa án:

1. Buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty B theo Hợp đồng thi công số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 5.765.583.696 đồng, trong đó:

- Nợ gốc là 4.675.490.000 đồng.

- Nợ lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc của hợp đồng tính từ ngày 01/5/2021 (Sau 30 ngày kể từ ngày Công ty B xuất hóa đơn VAT cuối cùng) đến ngày 30/8/2023 (tạm tính) là 1.090.093.696 đồng.

2. Buộc Công ty Đ tiếp tục thanh toán lãi chậm thanh toán trên dư nợ gốc kể từ sau ngày 30/8/2023 cho đến khi Công ty Đ thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc và lãi của Hợp đồng thi công số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019.

* Bị đơn trình bày:

Công ty Đ xác định có ký với Công ty B Hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HDKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 về việc “Cung cấp và thi công cọc” theo thiết kế của Công ty Đ cho công trình “Khu nhà ở và dịch vụ thương mại B" tại D Q, khu phố N, phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương. Hiện nay Công ty Đ còn nợ Công ty B số tiền gốc 4.675.490.000 đồng.

Về tiền lãi chậm thanh toán:

+ Căn cứ theo Điều 6 hợp đồng thì việc thanh toán chỉ được tiến hành khi Công ty Đ nhận được hồ sơ quyết toán gồm: Công văn đề nghị thanh toán, hóa đơn VAT, quyết toán giá trị hoàn thành, các biên bản nghiệm thu, biên bản nhận khối lượng hoàn thành, các chứng chỉ thí nghiệm, vật tư đầu vào, nhật ký cung cấp cọc và thi công cọc, bản vẽ hoàn công cọc... Nhưng trong hồ sơ thanh toán mà Công ty Đ đã nhận từ Công ty B không có công văn đề nghị thanh toán. Đến ngày 30/6/2022 Công ty Đ mới nhận được công văn đề nghị thanh toán. Do đó, thời điểm phát sinh công nợ là từ ngày 30/6/2022.

+ Theo các khoản 6.1, 6.2, 6.3 Điều 6 hợp đồng thì: Thời điểm bắt đầu phát sinh công nợ đợt 1 là từ ngày 28/9/2022; Thời điểm bắt đầu phát sinh công nợ đợt 2 là sau 30 ngày, kể từ ngày Công ty Đ thanh toán đợt 1 cho Công ty B; Thời điểm phát sinh công nợ đợt 3 là sau 30 ngày kể từ ngày Công ty Đ thanh toán số tiền đợt 2 cho Công ty B. Như vậy thời hạn thanh toán các đợt là từ “sau...” nhưng lại không có thời điểm kết thúc thời hạn thanh toán các đợt. Công ty B căn cứ vào Điều 6 và các điều khoản thỏa thuận về việc thanh toán để nhận định Công ty Đ chậm thanh toán các đợt là không có căn cứ. Do đó, Công ty Đ không đồng ý trả số tiền lãi chậm thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của Công ty B.

Tại Bản án dân sự sơ tham so 3699/2023/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH B:

Buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty B số nợ theo hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 là 5.786.078. 995 đồng (Năm tỷ, bảy trăm tám mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn, chín trăm chín mươi lăm đồng), trong đó:

+ Nợ gốc là: 4.675.490.000 đồng.

+ Nợ lãi chậm thanh toán tính đến ngày 15/9/2023 là: 1,110,588,995 đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngày 27/9/2023 bị đơn Công ty Đ đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại thời điểm phát sinh công nợ là từ ngày 30/6/2022 để từ đó điều chỉnh lại mức lãi chậm thanh toán.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại thời điểm phát sinh công nợ là từ ngày 30/6/2022 để từ đó điều chỉnh lại mức lãi chậm thanh toán.

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được nộp trong thời hạn quy định nên hợp lệ.

+ Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.1] Về hình thức của đơn kháng cáo: Xét thấy đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

[1.2] Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét Hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 về việc cung cấp và thi công bẽ tông dự ứng lực PHC D400A và PHC D600A theo thiết kế của Công ty Đ cho công trình “Khu nhà ở và dịch vụ thương mại B” tại D Q, khu phố N, phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương được ký giữa Công ty B và Công ty Đ là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ gồm Hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019, Bảng tổng hợp giá trị thanh toán, Bảng tổng hợp giá trị khối lượng, Nghiệm thu khối lượng thi công và cung cấp cọc nội bộ, Bảng diễn giải khối lượng thi công ép cọc, Bảng tổng hợp giá trị thanh toán, Hóa đơn giá trị gia tăng và sự thừa nhận của bị đơn có cơ sở xác định số tiền nợ gốc mà Công ty Đ còn nợ Công ty B là 4.675.490.000 đồng.

Xét, Công ty Đ cho rằng thời điểm phát sinh công nợ là từ ngày 30/6/2022, là ngày mà Công ty Đ nhận được công văn đề nghị thanh toán và không đồng ý trả số tiền lãi chậm thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của Công ty B vì không xác định được thời gian tính lãi. Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 6 của hợp đồng thì mốc bắt đầu xác định nghĩa vụ thanh toán của Công ty Đ là sau 90 ngày kể từ ngày ép xong cọc cuối cùng. Căn cứ bảng diễn giải khối lượng thi công ép cọc được hai bên ký ngày 31/12/2020 thì ngày ép cọc cuối cùng là ngày 09/8/2020. Như vậy thời hạn thanh toán được xác định như sau: Thanh toán đợt 1 là ngày 09/11/2020, thanh toán đợt 2 là ngày 10/12/2020, thanh toán đợt 3 là ngày 11/01/2021. Ngày 14/01/2021, Công ty Đ và Công ty B đã ký bảng tổng hợp giá trị thanh toán.

Việc Công ty Đ cho rằng đến ngày 30/6/2022 mới nhận được công văn đề nghị thanh toán nên thời điểm phát sinh công nợ phải xác định từ ngày 30/6/2022 là không có căn cứ vì: Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty B và Công ty Đ đã ký biên bản nghiệm thu xác định công việc hoàn thành đưa vào sử dụng; Hai bên đã ký bảng tổng hợp giá trị thanh toán ngày 14/01/2021; Công trình đã thi công xong và đưa vào sử dụng, các bên không có ý kiến gì về việc chất lượng công trình đã thi công xong. Toàn bộ hồ sơ nghiệm thu, thanh quyết toán đã được Công ty B gửi sang cho Công ty Đ, có chữ ký và đóng dấu pháp nhân của Công ty Đ nên việc bị đơn cho rằng không nhận được hồ sơ quyết toán đầy đủ là không đúng. Ngoài ra, Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty B 5 lần vào các ngày 25/11/2020, 06/10/2021, 30/12/2022, 13/01/2023 và 28/4/2023 với tổng số tiền là 1.700.000.000 đồng. Do đó, ngày bắt đầu tính lãi chậm thanh được xác định từ ngày 01/5/2021 là có lợi cho bị đơn vì thời điểm tính lãi sau các mốc thời gian thanh toán 03 đợt.

Về mức lãi suất chậm thanh toán: Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã tính lãi theo mức lãi suất chậm thanh toán 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 13 của Hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về mức bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán của hợp đồng xây dựng và có lợi cho bị đơn.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Đ, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp và có cơ sở nên chấp nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Công ty Đ phải chịu án phí phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét lại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 148, 308 và 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 26 và 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty CP Đ; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 3699/2023/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH B:

Buộc Công ty CP Đ phải thanh toán cho Công ty TNHH B số nợ theo hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 là 5.786.078.995 (Năm tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu không trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm chín mươi lăm đồng) đồng, trong đó: Nợ gốc là 4.675.490.000 đồng; Nợ lãi chậm thanh toán tính đến ngày 15/9/2023 là 1.110.588.995 đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế số 1012/2019/HĐKT/TECCO-MĐ ngày 10/12/2019 nhung phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 113.765.079 (Một trăm mười ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi chín) đồng Công ty CP Đ phải chịu.

Công ty TNHH B được nhận lại tiền tạm ứng án phí 56.742.296 (Năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm chín mươi sáu) đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0028411 ngày 20/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty CP Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, nhung được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do Công ty CP Đ đã nộp là 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0005407 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty CP Đ đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo quy định.

3. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

190
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng số 29/2024/KDTM-PT

Số hiệu:29/2024/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:30/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về