Bản án về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 10/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 10/2024/DS-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG

Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-DS ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S chi nhánh Q thành phố Hồ Chí Minh, do ông Trần Đức T đại diện theo ủy quyền theo văn bản số 3453/2023/UQ-TGĐ.

Địa chỉ: Lầu E, B N, phường V, quận C, TP Hồ Chí Minh, vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Trí H, sinh năm 1983, Nơi ĐKHKTT: Khu phố 5, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 25/7/2018 ông Nguyễn Trí H ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần S chi nhánh Q thành phố Hồ Chí Minh, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,5%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 2,5% x 150% = 3,75%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Trí H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.700.000 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo ngày và theo lãi suất Ngân hàng được áp dụng vào thời điểm khác nhau quy định tại Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ông H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, ông H chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền 3.900.000 đồng. Qua nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông H không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/4/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và khởi kiện ra Toà án. Tính đến ngày 09/9/2024, ông H còn nợ các khoản:

- Nợ gốc: 20.118.688 đồng.

- Lãi quá hạn: 49.466.116 đồng.

Tổng cộng: 69.584.804 đồng.

Yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Trí H trả ngay cho Ngân hàng số tiền trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 10/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Trí H vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiêm sát nhân dân huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm; xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ 2, nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 463, 466 BLDS; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S, buộc ông Nguyễn Trí H trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn khởi kiện ông Nguyễn Trí H tại Toà án nhân dân quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh là nơi làm việc của ông H và nơi thực hiện hợp đồng, nhưng ông H không còn làm việc tại cơ sở cũ nên Ngân hàng thương mại cổ phần S đề nghị chuyển cho Toà án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú giải quyết. Ông Nguyễn Trí H có hộ khẩu thường trú tại: Khu phố E, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sông Hĩnh, tỉnh Phú Yên đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trí H đà được tống đạt hợp lệ nhưng đều vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu ông H trả nợ sử dụng thẻ tín dụng theo hợp đồng từ năm 2018 nên đây là tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Bộ luật dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp: Trong toàn bộ quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng ông H vẫn không có mặt, được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên cần chấp nhận lời trình bày và các chứng cứ tài liệu của nguyên đơn về việc ông H có sử dụng thẻ tín dụng và còn nợ 20.118.688 đồng tiền gốc đến nay chưa trả, là vi phạm thoả thuận điều kiện sử dụng thẻ tín dụng nên phải chịu các khoản phát sinh về lãi, lãi suất quá hạn, phạt chậm trả và các loại phí theo thoả thuận, phù hợp với Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể:

- Tiền nợ gốc đến kỳ trả là: 20.118.688 đồng tiền gốc - Lãi vay quá hạn với mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn, đến ngày 09/9/2024 là: 49.466.116 đồng (bảng kê BL 67) Tổng cộng 69.584.804 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi trả hết nợ, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Trí H có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn 69.584.804 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là: 69.584.804 đồng) x 5% = 3.479.000 đồng (đã làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S 1.525.862 (một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012859 ngày ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 155, 156, 157, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S: Buộc bị đơn ông Nguyễn Trí H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền 69.584.804 đồng (trong đó tiền gốc vay 20.118.688 đồng, 49.466.116 đồng lãi đến ngày 09/9/2024) và tiền lãi theo Hợp đồng kề từ ngày 10/9/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí: Ông Nguyễn Trí H phải chịu 3.479.000 đồng (ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S 1.525.862 (một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012859 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 10/2024/DS-ST

Số hiệu:10/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sông Hinh - Phú Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về