Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán và hợp đồng tín dụng số 46/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 46/2024/DS-ST NGÀY 04/05/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Vào ngày 04 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST - DS ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QĐST-DS ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Thành Đ, sinh năm 1970 - vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Huỳnh Thành Đ là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/6/2020) - vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Văn Kim T, sinh năm 1972 - có mặt.

Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Văn Kim T là chị Nguyễn Thị Kiều P, sinh năm 1991 (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/7/2020) - có mặt.

Nơi cư trú: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng).

Địa chỉ: Số H đường L, phường L, quận Đ, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T1 - Phó Giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đặng Minh T2 - Chuyên viên xử lý nợ - có mặt.

Địa chỉ: Số C H, Phường A, Tp ,, tỉnh Vĩnh Long.

2) Chị Trần Thị Xuân M, sinh năm 1970 - vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị Xuân M là chị Nguyễn Thị Kiều P, sinh năm 1991 - có mặt.

Nơi cư trú: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

3) Chị Dương Thị Mỹ P1, sinh năm 1980 - vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 14/5/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/6/2020 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Huỳnh Thành Đ có chị Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 16/3/2020 anh Đ có bán cho anh T một chiếc xe tải mang biển số 64C - xxxxx, nhãn hiệu Vinh Phát với giá là 368.000.000 đồng. Anh T đặt cọc trước 30.000.000 đồng (anh Đ đã nhận xong), anh T hẹn đến ngày 16/4/2020 sẽ trả tiếp 38.000.000 đồng, khi giao nhận tiền hai bên chỉ viết giấy tay ghi ngày 16/3/2020. Đối với số tiền còn nợ lại 300.000.000 đồng anh Đ đang trả góp cho Ngân hàng thì hai bên thỏa thuận lập “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe ” ghi tháng 3/2020. Theo thỏa thuận thì anh T có nghĩa vụ trả góp cho Ngân hàng thay cho anh Đ mỗi tháng là 6.445.000 đồng và lãi suất thả nổi theo từng tháng cho đến khi anh T trả xong tiền cho Ngân hàng thì anh Đ sẽ làm thủ tục sang tên trước bạ xe cho anh T. Nhưng đến nay anh T không trả tiếp cho anh Đ 38.000.000 đồng và cũng không trả góp cho Ngân hàng theo thỏa thuận.

Nay anh Đ yêu cầu anh T tiếp tục trả 38.000.000 đồng và trả góp cho Ngân hàng số tiền 300.000.000 đồng.

Trường hợp anh T không chấp nhận yêu cầu nêu trên thì anh T phải giao lại chiếc xe 64C - xxxxx cho anh Đ, đồng thời anh T phải trả tiền mất thu nhập trong thời gian anh Đ giao xe cho anh T mỗi ngày là 1.800.000 đồng x 49 ngày (tính từ ngày 16/3/2020 đến ngày 05/5/2020) = 88.200.000 đồng và yêu cầu anh T tiếp tục trả tiền mất thu nhập ngày tiếp theo cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Bị đơn là anh Văn Kim T có chị Nguyễn Thị Kiều P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Thống nhất lời trình của nguyên đơn về việc thỏa thuận mua bán xe như Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe lập tháng 3 năm 2020. Theo thỏa thuận anh T đã thanh toán cho anh Đ số tiền là 30.000.000 đồng, số tiền còn lại và tiền trả góp cho Ngân hàng thì anh T chưa thực hiện. Nguyên nhân anh T và anh Đ hẹn nhau vào ngày 16/4/2020 gặp nhau tại Phòng C tại Vĩnh Long để chứng thực hợp đồng mua bán xe, nhưng không công chứng được do thiếu vợ của anh Đ là chị P1. Sau đó ngày 17/4/2020 anh Đ hẹn anh T tại Ngân hàng V - Chi nhánh L1 để thay đổi số điện thoại đóng tiền trả góp chiếc xe cho Ngân hàng, nhưng anh Đ vắng mặt nên không thay đổi được số điện thoại, tại đây anh T có yêu cầu ngân hàng cấp lại giấy đi đường, nhưng không được do trước đây anh Đ mua bảo hiểm của Công ty cổ phần B, sau đó anh Đ thay đổi qua Công ty B1, nhưng phía anh Đ chưa cung cấp cho Ngân hàng giấy tờ bảo hiểm nên Ngân hàng không làm lại giấy đi đường cho anh T. Anh T có thông báo cho anh Đ biết để anh Đ cung cấp bảo hiểm cho ngân hàng, nhưng anh Đ trả lời không vào nhà lấy bảo hiểm được. Do chưa thực hiện hợp đồng mua bán theo đúng mẫu nên anh T không thực hiện việc trả tiếp số tiền 38.000.000 đồng và trả tiền góp hàng tháng cho Ngân hàng. Anh T có yêu cầu trả lại xe cho anh Đ nhưng anh Đ không đồng ý nhận xe và trả lại tiền 30.000.000 đồng, nên anh T giữ xe cho đến nay.

Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau:

- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng mua bán xe “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe ” lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T; anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Yêu cầu anh Đ trả lại số tiền mua xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx mà anh T đã giao cho anh Đ vào ngày 17/3/2020 là 30.000.000 đồng.

- Yêu cầu ông Đ trả lại số tiền mua Bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng, tiền mua Bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng, phí đi đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và hộp đen là 1.056.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 17.129.500 đồng.

- Anh T đồng ý trả lại chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx cho anh Đ để Được giao lại cho Ngân hàng khi anh Đ thanh toán xong số tiền 47.129.500 đồng cho anh T.

Anh T chỉ yêu cầu anh Đ mà không yêu cầu ai khác có trách nhiệm liên đới cùng với anh Đ trả tiền cho anh T. Ngoài ra anh T không có yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1) Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có anh Đặng Minh T2 là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 20/03/2018, Ngân hàng có cho anh Huỳnh Thành Đ và chị Dương Thị Mỹ P1 vay vốn theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô (Hợp đồng tín dụng) số: LN1803160559164/LAN/HDTD với số tiền là 464.000.000 đồng, mục đích vay mua xe ô tô, thời hạn vay là 72 tháng (đến ngày 20/3/2024). Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là Quyền sở hữu, sử dụng tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinh Phát số khung RM9VNCCDEHAB00037, số máy 4JB1TC13R917366 mang biển số 64C-xxxxx theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010607 do phòng CSGT công an tỉnh V cấp ngày 20/03/2018. Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803160559164/LAN/HDTC ngày 20/03/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Đ và chị P1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Phía Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho anh Đ và chị P1 thanh toán, nhưng anh Đ và chị P1 cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng quyết định khởi kiện anh Đ và chị P1 ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Anh Đ và chị P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 20/07/2020 cho đến nay.

Tính từ khi vay đến nay anh Đ và chị P1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 274.690.079 đồng, trong đó tiền gốc là 174.065.049 đồng, tiền lãi là 100.625.030 đồng.

Hiện nay anh Đ và chị P1 còn nợ lại Ngân hàng số tiền gốc là 289.934.951 đồng, tiền lãi trong hạn là 136.746.032 đồng, tiền lãi quá hạn là 68.373.016 đồng; tổng cộng tiền gốc và lãi là 495.054.000 đồng. Đối với hợp đồng mua bán xe giữa anh Đ với anh T thì khi anh Đ mua bán chiếc xe ô tô tải biển số 64C-xxxxx với anh T thì anh Đ không có thông qua cho Ngân hàng biết, sau này khi anh Đ phát sinh tranh chấp với anh T thì Ngân hàng mới biết được việc mua bán xe ô tô tải biển số 64C-xxxxx nêu trên.

Nay Ngân hàng có anh T2 là người đại diện theo ủy quyền yêu cầu:

- Yêu cầu vô hiệu hợp đồng mua bán xe biển số 64C-xxxxx giữa anh Huỳnh Thành Đ với anh Văn Kim T. Buộc anh Văn Kim T phải hoàn trả lại cho anh Huỳnh Thành Đ, chị Dương Thị Mỹ P1 xe ô tô biển số 64C-xxxxx.

- Buộc anh Huỳnh Thành Đ, chị Dương Thị Mỹ P1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 04/05/2024 là 495.054.000 đồng, (trong đó tiền gốc là 289.934.951 đồng, tiền lãi trong hạn là 136.746.032 đồng, tiền lãi quá hạn là 68.373.016 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 04/05/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã ký Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp anh Huỳnh Thành Đ, chị Dương Thị Mỹ P1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay. Tài sản bảo đảm là xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx do anh Đ đứng tên sở hữu.

Ngoài ra, anh T2 không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

2) Chị Trần Thị Xuân M có chị Nguyễn Thị Kiều P2 là người đại diện theo ủy quyền: Thống nhất theo nội dung trình bày và yêu cầu của anh T. Ngoài ra, chị M không có ý kiến và yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Ý kiến của vị Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự + Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thành Đ có chị Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh T. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô tải mang biển số 64C - xxxxx “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T.

- Buộc anh Đ trả cho anh T tiền mua xe 30.000.000 đồng.

- Buộc anh T giao lại cho anh Đ chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C - xxxxx.

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả số tiền mua phí sử dụng đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và phí mua hộp đen là 1.056.000 đồng. Tổng cộng là 7.541.000 đồng.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả số tiền mua Bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng và Bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng. Tổng cộng là 9.300.500 đồng.

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng có anh T2 là người đại diện theo ủy quyền.

Buộc anh Đ và chị P2 có trách nhiệm nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền là 495.054.000 đồng (trong đó tiền gốc là 289.934.951 đồng, lãi suất trong hạn là 136.746.032 đồng và lãi suất quá hạn là 68.373.016 đồng) và tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 05/5/2024 cho đến thanh toán nợ Ngân hàng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền anh Đ đã nộp tạm ứng án phí là 10.280.000 đồng.

- Buộc anh Đ phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của anh T được chấp nhận là 37.541.000 đồng x 5% = 1.877.050 đồng.

- Buộc anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của anh T không được chấp nhận là 9.300.500 đồng x 5% = 465.025 đồng.

- Buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 23.802.160 đồng (án phí có giá ngạch từ 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng thì mức thu án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng) do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận.

- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 09/10/2020.

- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất: Các đương sự không thống nhất toàn bộ nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ; ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của anh Đ và Ngân hàng thì quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản và Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho anh Đ, chị L và chị P2, nhưng anh Đ, chị L và chị P2 đã vắng mặt cả hai lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đ, chị L và chị P2 theo quy định của pháp luật.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét yêu cầu của anh Đ có chị L là người đại diện theo ủy quyền về việc yêu cầu anh T tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán xe trả tiếp cho anh Đ số tiền là 38.000.000 đồng và trả góp cho Ngân hàng số tiền là 300.000.000 đồng. Trường hợp anh T không chấp nhận yêu cầu nêu trên thì anh T phải giao lại chiếc xe 64C - xxxxx cho anh Đ; đồng thời anh T phải trả tiền mất thu nhập trong thời gian anh Đ giao xe cho anh T mỗi ngày là 1.800.000 đồng x 49 ngày (tính từ ngày 16/3/2020 đến ngày 05/5/2020) = 88.200.000 đồng và yêu cầu anh T tiếp tục trả tiền mất thu nhập ngày tiếp theo cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Hội đồng xét xử, xét thấy nguyên đơn anh Huỳnh Thành Đ có chị Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-DS ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QĐST-DS ngày 16/4/2024 mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thành Đ có chị Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng.

[4] Về yêu cầu phản tố của bị đơn:

Xét yêu cầu phản tố của anh T về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng mua bán xe “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T và yêu cầu anh Đ trả lại tiền mua xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx mà anh T đã giao cho anh Đ vào ngày 17/3/2020 là 30.000.000 đồng. Đồng thời anh T đồng ý trả lại chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx cho anh Đ để anh Đ giao lại cho Ngân hàng khi anh Đ thanh toán xong số tiền 47.129.500 đồng cho anh T.

Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng mua bán xe “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T không theo mẫu, không có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, anh Đ và anh T đều biết rõ chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx mà hai bên thỏa thuận mua bán với nhau hiện tại còn đang thế chấp tại Ngân hàng chưa tất toán. Mặc khác, việc mua bán xe giữa anh Đ và anh T không được sự đồng ý của Ngân hàng là vi phạm vào điều cấm được quy định tại khoản 8 Điều 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp,...”. Do đó, hợp đồng mua bán xe giữa anh Đ với anh T bị vô hiệu do vi phạm vào điều cấm của luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng mua bán xe “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T.

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T.

- Buộc anh Đ trả lại cho anh T 30.000.000 đồng tiền mua chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx.

- Buộc anh T trả lại cho anh Đ chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx.

Anh Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét yêu cầu của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả lại tiền mua bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng, tiền mua bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng, phí sử dụng đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và mua hộp đen là 1.056.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 17.129.500 đồng.

Hội đồng xét xử, xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh T có chị P là người đại diện theo ủy quyền không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh anh T đã mua bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng và bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng, tổng cộng là 9.300.500 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu này của anh T, buộc anh Đ có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền phí sử dụng đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và mua hộp đen là 1.056.000 đồng, tổng cộng là 7.541.000 đồng. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả tiền mua bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng và tiền mua bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng, tổng cộng là 9.300.500 đồng.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T.

- Buộc anh Đ trả lại cho anh T 30.000.000 đồng tiền mua chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx.

- Buộc anh T trả lại cho anh Đ chiếc xe tải mang biển số 64C-xxxxx, loại xe: Tải có mui, do anh Đ đứng tên Chứng nhận đăng ký xe ô tô (hiện nay do anh T quản lý).

- Buộc anh Đ trả cho anh T số tiền mua xe là 30.000.000 đồng và phí sử dụng đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và mua hộp đen là 1.056.000 đồng. Tổng cộng là 37.541.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả tiền mua bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng và tiền mua bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng. Tổng cộng là 9.300.500 đồng.

Anh Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Tại phiên tòa Ngân hàng Thương mại cổ phần V có anh T2 là người đại diện theo ủy quyền và anh T có chị P là người đại diện theo ủy quyền thống nhất với Biên bản định giá tài sản ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng dân sự huyện T thì giá trị còn lại của xe là 40% bằng số tiền là 580.000.000 đồng x 40% = 232.000.000 đồng.

Xét thấy, Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô) số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018 do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án không có công chứng hoặc chứng thực hợp pháp sự kiện vay tài sản giữa Ngân hàng với anh Đ và chị P2, nhưng anh Đ và chị P2 đã biết được tình tiết, sự kiện tranh chấp với Ngân hàng mà không có ý kiến gì bằng văn bản; đồng thời anh Đ và chị P2 cũng đã nhận được bản sao các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp, nhưng anh Đ và chị P2 cũng không có ý kiến và cũng không phản đối. Khoản 2 Điều 92 quy định; “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc anh Đ và chị P2 đã vay của Ngân hàng và hiện nay còn nợ với tổng số tiền là 495.054.000 đồng là có thật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 5 Điều 16 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N thì Ngân hàng được quyền thỏa thuận về lãi suất, phương thức cho vay trả góp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định việc thỏa thuận lãi suất giữa Ngân hàng với anh Đ và chị P2 là đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Đ và chị P2 đã nhận đủ tiền vay và đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền gốc là 174.065.049 đồng và lãi số tiền 100.625.030 đồng, kể từ ngày 25/5/2023 anh Đ và chị P2 không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng. Do anh Đ và chị P2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Đ và chị P2 phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nợ nêu trên là có căn cứ.

Trường hợp anh Đ và chị P2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán các tài sản đã thế chấp của anh Đ và chị P2 theo Hợp đồng thế chấp hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng có anh T2 là người đại diện theo ủy quyền.

Buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 495.054.000 đồng (trong đó tiền gốc là 289.934.951 đồng, tiền lãi trong hạn là 136.746.032 đồng, tiền lãi quá hạn là 68.373.016 đồng) tính đến ngày 04/5/2024.

Đồng thời buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền lãi suất tiếp theo kể từ ngày 05/5/2024 cho đến khi anh Đ, chị P2 thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018.

Trường hợp anh Đ, chị P2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản thế chấp của anh Đ, chị P2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Sung công quỹ Nhà nước số tiền anh Đ đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 10.280.000 đồng theo biên lai thu số No 0010225 ngày 12/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

- Anh Đ phải chịu 37.541.000 đồng x 5% = 1.877.050 đồng do yêu cầu của anh T được chấp nhận. Anh T không yêu cầu chị P2 có nghĩa vụ liên đới cùng với anh Đ trả nợ cho anh T nên chị P2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm liên đới với anh Đ.

- Anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của anh T được chấp nhận số tiền là 9.300.500 đồng x 5% = 465.025 đồng, được khấu trừ vào số tiền anh T đã nộp tạm ứng là 1.178.000 đồng nên anh T được nhận lại số tiền chênh lệch là 712.975 đồng theo biên lai thu số No 0010819 ngày 18/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

- Anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là 23.802.160 đồng (án phí có giá ngạch từ 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng thì mức thu án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận.

- Ngân hàng không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.899.000 đồng đồng theo biên lai thu số No 0010807 ngày 12/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

- Buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới phải chịu 4.000.000 đồng do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận để hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử là có căn cứ.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1, 5, 7 và 8 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 5 Điều 16 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N;

Căn cứ Điều 123, Điều 320, Điều 430 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 và khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Thành Đ có chị Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Văn Kim T có chị Nguyễn Thị Kiều P là người đại diện theo ủy quyền.

Tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx “Giấy thỏa thuận về việc mua bán xe” giấy tay lập tháng 3/2020 giữa anh Đ với anh T.

- Buộc anh Đ trả lại cho anh T 30.000.000 đồng tiền mua chiếc xe ô tô tải mang biển số 64C-xxxxx.

- Buộc anh T trả lại cho anh Đ chiếc xe tải mang biển số 64C-xxxxx, loại xe: Tải có mui, do anh Đ đứng tên Chứng nhận đăng ký xe ô tô (hiện nay do anh T quản lý).

- Buộc anh Đ trả cho anh T số tiền mua xe là 30.000.000 đồng và phí sử dụng đường bộ là 6.453.000 đồng, phí kiểm định là 320.000 đồng và mua hộp đen là 1.056.000 đồng. Tổng cộng là 37.541.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc yêu cầu anh Đ trả tiền mua bảo hiểm tai nạn là 1.826.000 đồng và tiền mua bảo hiểm xe là 7.474.500 đồng, tổng cộng là 9.300.500 đồng.

Anh Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc anh Văn Kim T trả lại cho anh Huỳnh Thành Đ chiếc xe tải mang biển số 64C-xxxxx (hiện nay do anh T quản lý).

3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần V có anh Đặng Minh T2 là người đại diện theo ủy quyền.

Buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 495.054.000 đồng, (trong đó tiền gốc là 289.934.951 đồng, tiền lãi trong hạn là 136.746.032 đồng, tiền lãi quá hạn là 68.373.016 đồng) tính đến ngày 04/5/2024.

Đồng thời buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền lãi suất tiếp theo kể từ ngày 05/5/2024 cho đến khi anh Đ, chị P2 thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018.

Trường hợp anh Đ, chị P2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán tài sản thế chấp của anh Đ, chị P2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1803160559164/LAN/HĐTD ngày 20/3/2018.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Sung công quỹ Nhà nước số tiền anh Đ đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 10.280.000 đồng theo biên lai thu số No 0010225 ngày 12/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

- Anh Đ phải chịu 37.541.000 đồng x 5% = 1.877.050 đồng do yêu cầu của anh T được chấp nhận. Anh T không yêu cầu chị P2 có nghĩa vụ liên đới cùng với anh Đ trả nợ cho anh T nên chị P2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm liên đới với anh Đ.

- Anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của anh T được chấp nhận số tiền là 9.300.500 đồng x 5% = 465.025 đồng, được khấu trừ vào số tiền anh T đã nộp tạm ứng là 1.178.000 đồng nên anh T được nhận lại số tiền chênh lệch là 712.975 đồng theo biên lai thu số No 0010819 ngày 18/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

- Anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là 23.802.160 đồng (án phí có giá ngạch từ 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng thì mức thu án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận.

- Ngân hàng không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.899.000 đồng đồng theo biên lai thu số No 0010807 ngày 12/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí là 4.000.000 đồng.

Buộc anh Đ, chị P2 có nghĩa vụ liên đới phải nộp 4.000.000 đồng để hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

53
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán và hợp đồng tín dụng số 46/2024/DS-ST

Số hiệu:46/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về