TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 54/2023/DS-ST NGÀY 08/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đua vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 64 ngày 21/7/2023, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 42 ngày 18/8/2023 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Anh Lương Đức H, sinh năm 1972 (có mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1983 (có mặt) Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1952 (có mặt)
2. Chị Lý Thị N, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là anh Lương Đức H trình bày:
Anh có cửa hàng bán thức ăn chăn nuôi cho anh D, vợ chồng ông T, tổng các khoản nợ đã được anh và anh D chốt lại vào ngày 15/5/2019 các bên chốt sổ với số tiền nợ là 342.700.000 đồng. Anh D đứng ra nhận trách nhiệm trả nợ tại giấy nhận nợ ngày 24/7/2020, ngày 19/10/2020 anh D đã trả số tiền 15.000.000 đồng, sau đó anh D không trả theo thỏa thuận. Tại phiên tòa anh yêu cầu anh D,chị N phải trả số tiền 329.000.000 đồng nợ gốc.
Về lãi suất: Anh H yêu cầu anh D, chị N phải trả số tiền lãi chậm trả trên số tiền mua cám chăn nuôi còn nợ là 329.000.000d tính từ ngày anh D trả được số tiền 15.000.000 đồng nợ là ngày 19/10/2020 cho đến nay anh tính tròn là 71.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi suất tính tròn là 400.000.000 đồng.
- Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn là Phạm Văn D trình bày: Năm 2016 anh có mua cám của ông H có nợ chốt lại số tiền 344.000.000 đồng, anh đã trả 15.000.000 đồng, nay còn nợ 329.000.000 đồng anh xin trả dần số tiền gốc còn lãi anh đề nghị miễn cho anh. Tại phiên tòa anh H có mặt, anh đồng ý trả số tiền gốc nhung xin trả dần còn số tiền lãi thì đề nghị miễn hoặc giảm cho anh vì điều kiện kinh tế khó khăn không thể trả được.
- Tại bản tự khai và biên bản lay lời khai của ông Phạm Hồng T trình bày: Ông là bố đẻ của anh Phạm Văn D và là bố chồng của chị Lý Thị N. Bà Phạm Thị X, sinh năm 1956 là vợ ông (đã chết năm 2014). Vợ chồng ông và vợ chồng anh D, N ở khác nhà nhưng cùng sống chung trên mảnh đất mang tên ông. Bà X và vợ chồng anh D có chăn nuôi gia súc gia cầm, có mua thức ăn chăn nuôi ở cửa hàng anh H nhưng do bị bệnh dịch tai xanh, lở mồm long móng vì vậy lợn, gà đều chết hết không còn con nào sống sót nên bị vỡ nợ không có khả năng thanh toán tiền cám. Sau khi bà X chết thì vợ chồng ông và vợ chồng anh D không chăn nuôi chung với nhau gì nữa. Sau khi bà X chết nên không có khả năng trả nợ, do đó anh D xác nhận nợ và cam kết trả nợ với số tiền nợ mua cám là chung của vợ ông là bà X và anh H tổng số nợ chung cả gia đình là 344.000.000 đồng, anh D đã trả cho anh H 15.000.000 đồng nay còn nợ là 329.000.000 đồng, thì ông và anh D, chị N xác định phải có trách nhiệm trả nợ cho anh H và ông đề nghị anh H cùng với gia đình ông đối chiếu sổ sách chốt nợ với nhau cụ thể. Ông đồng ý cùng vợ chồng con trai ông có trách nhiệm trả số tiền còn nợ mua cám cho anh H.
- Tại bản tự khai chị Lý Thị N trình bày: Vợ chồng chị có mua cám chăn nuôi của anh H để chăn nuôi, vợ chồng chị và bố mẹ chồng chị chăn nuôi riêng kết thúc năm 2016 thì bị dịch bệnh chăn nuôi thua lỗ chua trả được tiền cám cho anh H. Nay anh H yêu cầu trả số tiền nợ 329.000.000 đồng, chị đề nghị sổ sách nợ còn nợ bao nhiêu thì trả gốc, còn về lãi suất thì chị không đồng ý trả tiền lãi.Tại phiên tòa chị có mặt và giữ nguyên ý kiến.
- Tại bản tự khai chị H1 trình bày: Chị và anh H kết hôn vào tháng 10/2019, từ khi về làm vợ anh H thì chị không biết việc mua bán trước kia của anh H nên chị xác định việc mua bán giữa anh H với gia đình ông T, anh D chị không biết nên chị xác định số tiền tranh chấp trong vụ án này là tài sản riêng của anh H có trước khi kết hôn với chị nên chị không có liên quan gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền: Anh H khởi kiện bị đơn là anh Phạm Văn D, sinh năm 1983 ở địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ tranh chấp: Anh Lương Đức H và anh Phạm Văn D tự nguyện thỏa thuận về hợp đồng mua bán cám chăn nuôi, tại giấy nhận nợ ngày 24/7/2020 anh D đã tự nguyện chốt số tiền mua cám còn nợ với anh H được xác nhận là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Căn cứ đơn khởi kiện của anh H đây xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Xét yêu cầu của anh H yêu cầu anh D phải trả số tiền mua cám chăn nuôi còn nợ gốc 329.000.000 đồng và tiền lãi suất thấy rằng: Anh H xác định sau khi thỏa thuận về hợp đồng mua bán cám chăn nuôi, khi đó bà X là vợ ông T vẫn còn sống có mua cám chăn nuôi của anh H, anh H đã giao đủ cho vợ chồng anh D, bà X số cám chăn nuôi theo thỏa thuận, gia đình anh D đã nhận đủ số cám chăn nuôi, mỗi lần các bên đều ký nhận nợ, có lần thì anh H có lần thì chị N, bà X ký nhận nợ. Tuy nhiên, sau khi bà X chết vào năm 2014 thì anh D đã nhận trách nhiệm trả nợ với anh H và là người ký xác nhận nợ với anh H cả số tiền ông T, bà X còn nợ và số tiền nợ của vợ chồng anh D gộp lại tại Giấy nhận nợ và cam kết vay nợ ngày 24/7/2020 với số tiền chốt nợ là 344. 000.000 đồng. Sau khi nhận nợ anh D đã trả 15.000.000 đồng cho anh H vào ngày 19/10/2020. Đến khi hết thời hạn ghi trong giấy nhận nợ anh H đã đến gia đình anh D đòi nhiều lần nhưng đến nay chưa trả. Anh D thừa nhận số tiền còn nợ nợ là 329.000.000 đồng, anh đồng ý trả nhưng xin trả dần về số tiền lãi anh đề nghị anh H miễn cho anh vì kinh tế khó khăn nhưng anh H không đồng ý.
Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện tại Giấy nhận nợ và cam kết vay nợ ngày 24/7/2020 thể hiện anh D có chốt nợ số tiền là 344. 000.000 đồng đúng là chữ viết và chữ ký Phạm Văn D tại mục bên nợ là đúng. Như vậy anh D tự nguyện chốt số tiền nợ với anh H nên anh D phải chịu trách nhiệm về số tiền đã chốt nợ giữa các bên. HĐXX thấy việc anh D, chị N xác nhận còn nợ số tiền là 329.000.000 đồng đến nay chưa trả là có thật nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, buộc anh D, chị N trả nợ gốc là 329.000.000 đồng là phù hợp.
- Về tiền lãi suất: Xét yêu cầu của anh H yêu cầu anh D phải trả số tiền lãi chậm trả trên số tiền mua cám chăn nuôi còn nợ là 329.000.000đ tính từ ngày anh D trả được số tiền 15.000.000 đồng nợ là ngày 19/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm và lãi suất tiếp theo sau ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi anh D, chị N trả hết số tiền còn nợ của anh H theo quy định của pháp luật, thấy rằng: Đối với số tiền anh D, chị N còn nợ của anh H tại Giấy nhận nợ và cam kết vay nợ ngày 24/7/2020 về số tiền mua bán cám chăn nuôi, đến hạn trả nợ theo thỏa thuận giữa hai bên là ngày hai bên chốt nợ lần đầu 15/5/2019 tại sổ mua bán cám do anh H giao nộp có ghi nội dung thỏa thuận phải chịu lãi suất nếu anh D không thanh toán trả được toàn bộ số tiền còn nợ cho anh H, tại phần cuối dòng chốt anh D có ký nhận nợ số tiền đã chốt nên các bên có việc thỏa thuận về lãi suất với nhau. Do đó, vào ngày 19/10/2020, anh D đã trả 15.000.000 đồng còn lại từ đó không trả được lần nào nữa nên việc anh H yêu cầu anh D thanh toán tiền lãi chậm trả tính từ ngày 19/10/2020 của số tiền còn nợ là 329.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh H yêu cầu tính lãi suất, anh D xin miễn, do hai bên có tranh chấp về lãi suất nên lãi suất được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự với mức là 10%/ năm là phù hợp đến nay anh D chua thanh toán trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền nay anh H yêu cầu trả lãi phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Như vậy, số tiền gốc 329.000.000 đồng, lãi tính kể từ ngày 19/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/9/2023, anh H tính tròn là 34 tháng, số tiền lãi là 329.000.000 đồng x 0.83%/tháng % x 34 tháng = 92.843.800 đồng nhưng anh H tính tròn là 90.000.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lại là 422.217.000 đồng. Tại phiên tòa anh H và anh D đã thỏa thuận thống nhất được số tiền, theo đó anh H tự nguyện miễn cho anh D một phần tiền lãi và chỉ yêu cầu anh D, chị N phải trả số tiền lãi là 71.000.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi tính tròn là 400.000.000 đồng, anh D đồng ý nhưng xin trả dần. Như vậy, số tiền anh D còn nợ của anh H tiền mua cám chăn nuôi, tiền gốc và tiến lãi chậm trả được xác định là: 400.000.000 đồng nên cần buộc anh Phạm Văn D, chị Lý Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho anh Lương Đức H là có căn cứ.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Theo sự thừa nhận của anh H, chị H1 thì số tiền 329.000. 000 đồng là tài sản trước khi kết hôn của anh H cho vợ chồng anh D, chị N nợ tiền mua cám từ trước đó, anh D, chị N đã thừa nhận đây là số tiền nợ khi vợ chồng chăn nuôi còn nợ nên xác định cả anh D, chị N phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền còn nợ cho anh H.
[4] Về lãi suất phát sinh do chậm trả tiền: Do hai bên đương sự không thỏa thuận được mức lãi suất chậm trả tiền nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để ấn định mức lãi suất chậm trả tiền. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thì ngoài số tiền phải trả, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của anh H được chấp nhận nên anh D, chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng do chị N là người dân tộc thiểu số (dân tộc Nùng) sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được xác nhận của UBND xã và đã có đơn xin miễn án phí nên chị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 275, Điều 288; Điều 430, Điều 431, Điều 433, Điều 440; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn H2: Buộc anh Phạm Văn D, chị Lý Lhị N phải có trách nhiệm liên đới trả cho anh Lương Văn H2 số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ là 400.000.000 đồng (bằng chữ: bốn trăm triệu đồng), trong đó số tiền gốc là 329.000.000 đồng, tiền lãi suất tính từ ngày 19/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/9/2023 tính tròn là 71.000.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
- Miễn số tiền về phần án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lý Lhị N.
- Anh Phạm Văn D phải chịu 10.000.000 đồng án phí - Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho anh Lương Văn H2 số tiền 11.320.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009036 ngày 16/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 54/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 54/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Yên Thế - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 08/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về