Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 490/2023/DS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 490/2023/DS-PT NGÀY 24/04/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 505/2022/DS-PT ngày 23/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án sơ thẩm số 223/2022/DS-ST ngày 28/7/2022 cùa Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1402/2023/QĐPT-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 3808/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước S, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số 87/8 đường VT, Phường K, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông S có đơn vắng mặt) 2. Bị đơn:

2.1. Công ty Cổ phần CLH.

Địa chỉ trụ sở: Số 170/59 đường VĐ, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số 3341/1/2 ấp thị C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân N, sinh năm 1957, địa chỉ: 253 TN, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 25/12/2022).

2.2. Bà Doãn Thị Thanh T1, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số 52/255 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Đức H, sinh năm 1979. Hiện trú tại: Đang thi hành án phạt tù tại Đội X, phân trại số X, Trại giam X, Cục quản lý trại giam, Bộ Công an.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân N, sinh năm 1957, địa chỉ: 253 TN, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2023) Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn yêu cầu độc lập đề ngày 12/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Nguyễn Phước S trình bày:

Vào ngày 18/5/2020, cá nhân bà Doãn Thị Thanh T1 và Công ty Cổ phần CLH (Gọi tắt là Công ty CLH) (do bà T1 là đại diện theo ủy quyền, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 31/8/2010 tại Văn phòng Công chứng Sài Gòn, quyển số 08/TP/CC- SCC/HĐGD) bán cho ông S những tài sản sau:

- Thửa đất số 2779, tờ bản đồ TTC3 tại: ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận số T00254 12/2/2009.

- Thửa đất số 2783, tờ bản đồ TTC3 tại: ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận số T00255 cấp ngày 12/2/2009.

- Thửa đất số 2791, tờ bản đồ TTC3 tại: ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận số T00256 cấp ngày 30/3/2009.

- Nhà và đất tại địa chỉ số 52/355 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

Với giá: 2.000.000.000 đồng (3 thửa đất mỗi thửa giá 500.000.000 đồng, nhà đất tại số 52/355 đường Quang Trung với giá 500.000.000 đồng).

Theo ông S, do Công ty CLH có ông Vũ Đức H làm đại diện xác nhận có nợ bà T1 một số tiền nên đã làm Hợp đồng ủy quyền cho bà T1 định đoạt 05 phần đất tại Tiền Giang. Sau khi ông H bị Tòa án xét xử thì Cơ quan Thi hành án tỉnh Tiền Giang yêu cầu bà T1 giao lại 02 phần đất, chỉ còn 03 thửa đất nêu trên. Do bà T1 cần tiền để làm ăn nên phải bán căn nhà đang ở và 03 thửa đất nêu trên cho ông S đồng thời bàn giao bản chính các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông S. Tuy nhiên, ông S và bà T1 đã thỏa thuận bà T1 sẽ trả lại cho ông S số tiền 500.000.000 đồng, ông S trả lại bà T1 căn nhà tại địa chỉ: Số 52/355 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nay ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực Hợp đồng mua bán tài sản lập ngày 15/8/2020 giữa ông S với Công ty CLH đối với 03 tài sản là 03 quyền sử dụng đất tại ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã nêu ở trên, buộc Công ty CLH bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT08418, CT08417, ngày 30/10/2019 và số CT08558 ngày 14/02/2020 cho ông S để ông S làm thủ tục cập nhật biến động qua tên ông S.

Đối với nhà và đất tại địa chỉ số 52/355 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa ông S và bà T1, cụ thể: Bà T1 trả lại ông S số tiền 500.000.000 đồng, ông S trả lại nhà cho bà T1.

- Bị đơn Công ty Cổ phần CLH do ông Lê Thanh T là người đại diện theo pháp luật đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Doãn Thị Thanh T1 trình bày:

Bà T1 thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn và cùng đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực Hợp đồng mua bán tài sản lập ngày 15/8/2020 giữa ông S với Công ty CLH, và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa ông S và bà T1 về hoàn trả tiền - nhận nhà số 52/355 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đức H trình bày:

Trước đây ông H là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần CLH, ông và bà T1 có quan hệ làm ăn qua lại, Công ty có mượn bà T1 một số tiền nên Công ty đã ủy quyền cho bà T1 định đoạt 03 thửa đất tại Tiền Giang. Việc bà T1 chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho ai là quyền của bà T1 ông không có ý kiến, khi ký hợp đồng ủy quyền thì ông H có giao cho bà T1 03 bản chính Giấy chứng nhận của 03 thửa đất trên. Ông H xác định không có ủy quyền cho ai để làm lại các Giấy chứng nhận của 03 thửa đất nêu trên, ông không có ký một văn bản nào cho ai để định đoạt 03 thửa đất nêu trên ngoài bà T1.

Tại Bản án sơ thẩm số 223/2022/DS-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:

Xử:

1. Công nhận hiệu lực của hợp đồng mua bán tài sản lập ngày 18 tháng 5 năm 2020 giữa ông Nguyễn Phước S với Công ty Cổ phần CLH (do bà Doãn Thị Thanh T1 là đại diện theo ủy quyền, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 31/8/2010 tại Văn phòng Công chứng Sài Gòn, quyển số 08/TP/CC-SCC/HĐGD) đối với quyền sử dụng các phần đất sau:

- Phần đất có diện tích 287 m2 thuộc thửa đất số 336, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT08417 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/10/2019.

- Phần đất có diện tích 300 m2 thuộc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT08418 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/10/2019.

- Phần diện tích đất 4.966 m2 thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT08558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 14/2/2020. Phần diện tích đất 2.207,6 m2 (thuộc phần đất có diện tích 7.194 m2 thuộc thửa đất số 2791, tờ bản đồ số: TTC3, địa chỉ thửa đất: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).

Công ty Cổ phần CLH phải bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT08418, CT08417 ngày 30/10/2019 và số CT08558 ngày 14/02/2020 cho ông S ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Nếu Công ty Cổ phần CLH không bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì ông S có quyền làm đơn yêu cầu Thi hành án, đồng thời đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT08418, CT08417 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30/10/2019 và số CT08558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 14/02/2020 đã cấp cho Công ty Cổ phần CLH và cưỡng chế buộc Công ty Cổ phần CLH giao các phần đất nêu trên để ông S quản lý sử dụng.

Sau đó ông S được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với: Phần đất có diện tích 287 m2 thuộc thửa đất số 336, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, phần đất có diện tích 300 m2 thuộc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, phần diện tích đất 4.966 m2 thuộc thửa đất số 335, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang mang tên ông S.

Phần diện tích đất 2.207,6 m2 (thuộc phần đất có diện tích 7.194 m2 thuộc thửa đất số 2791, tờ bản đồ số: TTC3, địa chỉ thửa đất: Ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) ông S được quyền liên hệ Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông S và bà T1 với nội dung sau:

Bà T1 có trách nhiệm trả lại ông S số tiền 500.000.000 đồng, ông S có trách nhiệm trả lại nhà và đất tại địa chỉ số 52/355 đường QT, Phường C, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà T1.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

3. Về án phí:

Ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, án phí hòa giải 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2021/0048329, ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp. Ông S còn phải nộp thêm 300.000 đồng.

Bà T1 phải chịu 24.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên án quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 4291/QĐ-VKS-DS với nội dung:

Về tố tụng: Theo các tài liệu do ông Lê Xuân N cung cấp, thể hiện, sau khi được cấp mới các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất, ngày 04/02/2021 ông Lê Thanh T - đại diện Công ty Cổ phần CLH đã ký các Hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất cho ông Phạm Đăng Q, có chứng thực của Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh Lương. Tòa án không xác minh làm rõ, không đưa ông Phạm Đăng Q vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không những vi phạm khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, giải quyết không triệt để, toàn diện vụ án, khó khăn khi thi hành án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Văn bản số 633/VPĐKĐĐ- TTLT ngày 30/3/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang (Bút lục số 99) cung cấp: Vào thời điểm bà T1 giao dịch chuyển nhượng cho ông Nguyễn Phước S quyền sử dụng 03 Thửa đất: số 2779 diện tích 287 m2 loại đất ở nông thôn thuộc tờ bản đồ TTC3, Thửa số 2783 diện tích 300 m2 loại đất ở nông thôn thuộc tờ bản đồ TTC3 và Thửa số 2791 diện tích 7.194 m2 loại đất trồng cây lâu năm thuộc tờ bản đồ TTC3 tại ấp M, xã T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T00254, số T00255 ngày 12/02/2009 và số T00256 ngày 30/3/2009 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang thì 03 Giấy chứng nhận này đã bị hủy theo Quyết định số 192/QĐ-UBND ngày 22/01/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, không còn giá trị để thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tòa án chưa xác minh làm rõ giá trị pháp lý của các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà các bên giao dịch đã công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng này là không có căn cứ pháp luật.

Vì vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp kháng nghị để Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 223/2022/DSST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên khởi kiện, Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên kháng nghị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của chủ tọa, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và về nội dung như sau:

+ Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên kháng nghị: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 223/2022/DSST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hình thức: Quyết định kháng nghị số 4291/QĐ-VKS-DS ngày 26/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm đúng hình thức, giao cho Tòa án ngày 29/8/2022, trong hạn luật định nên được công nhận về mặt hình thức.

- Về nội dung:

Xét kháng nghị 4291/QĐ-VKS-DS ngày 26/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với đề nghị xem xét về tố tụng: Tòa án nhân dân quận Gò Vấp triệu tập thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đăng Q; về nội dung: chưa xác minh làm rõ giá trị pháp lý của các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà các bên giao dịch đã công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Ngày 31/8/2010, Công ty CLH có đại diện theo pháp luật ông Vũ Đức H ủy quyền bà Doãn Thị Thanh T1 được quyền thế chấp, bảo lãnh để vay vốn, cho thuê, chuyển nhượng, quyền sử dụng đối với 3 thửa đất tại ấp M, xã T, Cái Bè, Tiền Giang (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số T00254, T00255 ngày 12/2/2009, số T00256 ngày 30/3/2009) Ngày 23/10/2019 và ngày 22/01/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 3205/QĐ-UBND và số 192/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành AN 780805, AN780806, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T00255, T00254 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp ngày 12 tháng 2 năm 2009 cho Công ty Cổ phần CLH; hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành AN 780804, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T00256 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30 tháng 3 năm 2009 cho Công ty Cổ phần CLH. Lý do hủy: Công ty Cổ phần CLH đã làm mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên.

Ngày 18/5/2020, bà Doãn Thị Thanh T1 là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần CLH và ông Nguyễn Phước S ký Hợp đồng mua bán tài sản. Nội dung hợp đồng ghi nhận bà T1 bán cho ông S 01 căn nhà và đất tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh và 03 thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T00255, T00254 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp ngày 12 tháng 2 năm 2009 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T00256 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp ngày 30 tháng 3 năm 2009.

Như vậy, bà T1 ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông S 03 thửa đất căn cứ vào các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở số T00255, T00254 ngày 12 tháng 2 năm 2009 và số T00256 cấp ngày 30 tháng 3 năm 2009, nhưng tại thời điểm chuyển nhượng các giấy chứng nhận nêu trên đã bị hủy theo các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang vào các ngày 23/10/2019 và ngày 22/01/2020.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị hủy bằng quyết định hành chính đang có hiệu lực pháp luật, nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không còn giá trị pháp lý để thực hiện giao dịch dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ việc hủy, việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đúng pháp luật hay không, mà công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/5/2020 là chưa có cơ sở mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung.

- Sau khi được cấp lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào ngày 30/10/2019 và 14/2/2020, đến ngày 04/02/2021, ông Lê Thanh T, đại diện Công ty Cổ phần CLH đã ký các Hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên cho ông Phạm Đăng Q, có chứng thực của Văn phòng công chứng Nguyễn Thanh Lương. Thời điểm chuyển nhượng trước ngày Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án. Như vậy, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đối với 03 thửa đất liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của ông Phạm Đăng Q nhưng ông Phạm Đăng Q không được triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do việc giải quyết vụ án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Bản án xét xử cần phải hủy để giải quyết lại vụ án từ cấp sơ thẩm, triệu tập ông Q tham gia tố tụng, đảm bảo quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Q. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ này được ông Lê Xuân N giao nộp cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Tòa án xét xử nên Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

Như vậy, chấp nhận toàn bộ nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 4291/QĐ-VKS-DS ngày 26/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Cần hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 223/2022/DS-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1, 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 4291/QĐ-VKS-DS ngày 26/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 223/2022/DS-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 490/2023/DS-PT

Số hiệu:490/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về