Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 189/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 189/2023/DS-ST NGÀY 22/08/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 304/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 379/2023/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S; Sinh năm: 1977 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị t, huyện P, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1973 (Vắng mặt). Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2023 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 13/12/2020, ông Đinh Văn T có mua 01 điện thoại hiệu Samsung tại cửa hàng ông còn nợ số tiền 2.710.000, có viết biên nhận nợ cam kết đến ngày 13/01/2021 sẽ thanh toán nợ. Từ khi nhận điện thoại đến nay, ông S nhiều lần liên hệ yêu cầu ông T thanh toán nhưng ông T cứ hứa mà không thanh toán cho ông. Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Văn T trả cho ông số tiền mua bán tài sản là 2.710.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 13/01/2021 đến ngày xét xử xong vụ án.

- Bị đơn ông Đinh Văn T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông Đinh Văn T vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện yêu cầu ông Đinh Văn T thanh toán tiền mua tài sản; bị đơn ông Đinh Văn T có địa chỉ cư trú tại: Huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Do đó, đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đinh Văn T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Đinh Văn T.

[3] Tại phiên tòa ông S xác định ngày 13/12/2020 ông Đinh Văn T có đến cửa hàng Hoàng Sử do ông đứng tên chủ cửa hàng mua 01 điện thoại hiệu Samsung tại cửa hàng ông còn nợ số tiền 2.710.000 đồng. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông Đinh Văn T thanh toán nợ cho ông nhưng ông Đinh Văn T không thanh toán. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, ông Nguyễn Việt S cung cấp biên nhận nợ ngày 13/12/2020 có nội dung ông Đinh Văn T mua điện thoại còn nợ 2.710.000 đồng. Do đó yêu cầu của ông Nguyễn Việt S buộc ông Đinh Văn T trả cho ông 2.710.000 đồng tiền nợ mua tài sản là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về lãi suất và thời gian tính lãi suất: Tại giấy nhận nợ ngày 13/12/2020, ông Đinh Văn T hẹn thời hạn thanh toán khoản nợ trên là ngày 13/01/2021. Tuy nhiên, đến nay, ông Đinh Văn T vẫn còn nợ ông S 2.710.000 đồng. Như vậy, ông Đinh Văn T đã vi phạm thời hạn trả nợ số tiền 2.710.000 đồng từ ngày 13/01/2021 đến ngày 22/8/2023 là 02 năm 07 tháng 09 ngày là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về mức lãi suất, do các bên không thỏa thuận mức lãi suất nên áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”. Như vậy, tiền lãi của khoản nợ 2.710.000 đồng từ ngày 13/01/2021 đến ngày 22/8/2023 là 706.766 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi là 3.416.766 đồng. Buộc ông Đinh Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ gốc và lãi là 3.416.766 đồng.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông S không phải chịu án phí. Ông Đinh Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 430, Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Đinh Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ gốc và lãi là 3.416.766 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0018982 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; Ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Đinh Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đinh Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

43
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 189/2023/DS-ST

Số hiệu:189/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về