Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán số 94/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 94/2024/DS-ST NGÀY 10/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Trong ngày 10 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp: "Hợp đồng mua bán" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Thị H. H, sinh năm 19xx Địa chỉ: 50 Đ, khu phố A, phường B, thị xã Gò Công (nay là TP Gò Công), tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Phạm T. S, sinh năm 19xx và Nguyễn Thị C. H, sinh năm 19xx. Cùng địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trịnh V. H, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Số 50, Đ, Khu phố A, Phường B, thị xã Gò Công (nay là TP Gò Công), tỉnh Tiền Giang.

(Bà H, anh S, chị H có mặt, ông H xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị H. H trình bày:

Đại lý Hưởng Sang của vợ chồng bà làm chủ (Võ Thị H. H và Trịnh V. H) có bán thức ăn thủy sản cho ông Phạm T. S và bà Nguyễn Thị C. H. Khi bán hai bên thỏa thuận cuối vụ tôm ông S và bà H sẽ trả tiền. Sau đó, hai bên có tiến hành đối chiếu công nợ với nhau thì ông S và bà H còn nợ tôi số tiền là 338.134.000đ. Nhưng sau khi kết nợ ông S và bà H không trả tiền cho bà. Nay bà yêu cầu ông S và bà H trả cho vợ chồng bà số tiền nợ thức ăn thủy sản là 338.134.000đ và lãi chậm trả tính từ ngày 26 tháng 9 năm 2021 đến ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo mức lãi suất quá hạn là 1,5%/tháng đối với số tiền là 338.134.000đ và số tiền lãi tạm tính làm tròn là 43.911.100 đồng như vậy tổng số tiền mà ông S và bà H phải trả là 382.045.100 đồng và yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa bà H thừa nhận có nhận số tiền 30.000.000đ, nên số nợ gốc là 308.134.000đ. Bà yêu cầu anh sang, chị H trả số tiền gốc 308.134.000đ và tiền lãi chậm trả là 20.000.000đ, tổng cộng 328.134.000đ, thời gian trả khi án có hiệu lực.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm T. S và chị Nguyễn Thị C. H trình bày:

Anh S và chị H là vợ chồng, có mua thức ăn thủy sản của Đại lý Hưởng Sang do vợ chồng bà H làm chủ (Võ Thị H. H và Trịnh V. H), Anh S và chị H thống nhất còn nợ tiền mua thức ăn thủy sản của Đại lý Hưởng Sang là 338.134.000đ (Ba trăm ba mươi tám ngàn một trăm ba mươi bốn ngàn đồng), nhưng vào tháng 8/2022, anh chị có trả cho bà Hoa số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), không làm biên nhận, nay chỉ còn nợ số tiền là 308.134.000đ. Anh chị đồng ý trả số tiền nợ 308.134.000đ, xin không trả tiền lãi, mỗi năm trả 30.000.000đ cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa, anh S, chị H thống nhất với bà H số nợ gốc là 308.134.000đ và đồng ý trả tiền lãi 20.000.000đ, tổng số tiền phải trả là 328.134.000đ. Anh, Chị đề nghị trả mỗi năm 36.000.000đ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trịnh V. H trình bày:

Ông H thống nhất với yêu cầu khởi kiện của vợ là bà H, yêu cầu ông S và bà H trả số tiền mua bán thức ăn thủy sản gồm tiền vốn và lãi số tiền như vợ ông là bà Hoa trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về “Hợp đồng mua bán tài sản” được xem xét, giải quyết theo quy định Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Xét sự vắng mặt của bị đơn ông Trịnh V. H tại phiên tòa, do ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H. H là có căn cứ. Bởi lẽ; bà có cung cấp chứng cứ là giấy “Biên bản về việc xác nhận công nợ” do anh S và bà H ký nhận nợ với bà Hoa, ông H vào ngày 26/9/2021, đồng thời tại phiên tòa anh S và chị H đã thừa nhận còn nợ tiền vốn và thời gian ký nợ đúng như phía nguyên đơn trình bày. Như vậy, hai bên đã xác lập giao dịch mua bán thức ăn thủy sản, quá trình thực hiện hợp đồng anh S và chị H đã được nhận tài sản, nhưng chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền, nên phải có nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng. Tại phiên tòa, hai bên đã thống nhất số tiền còn nợ là 308.134.000đ, do đó anh S, chị H cùng có trách nhiệm trả cho ông H, bà H là phù hợp pháp luật.

[4] Về tiền lãi: Bà yêu cầu anh S, chị H trả tiền lãi chậm trả tính từ ngày 26/9/2021 đến ngày Tòa án xét xử. Nhưng bà H tự nguyện giảm bớt tiền lãi cho anh S, chị H, bà yêu cầu anh S chị H trả số tiền lãi là 20.000.000 đồng. Anh S, chị H thống nhất và đồng ý trả số tiền lãi nên ghi nhận.

[5] Về thời gian trả nợ: anh và chị H đồng ý trả tiền còn nợ nêu trên, nhưng đề nghị trả dần là một năm trả 36.000.000đ. Đề nghị này không được bà H chấp nhận, đồng thời xét thấy thời gian trả tiền của anh S và chị H kéo dài quá lâu, trái với quy định pháp luật, gây thiệt thòi quyền lợi cho phía bà H. Do đó, buộc anh S và chị H trả tiền vốn và tiền lãi khi án có hiệu lực.

[6] Về án phí: Yêu cầu của bà H được chấp nhận hoàn toàn nên anh S và chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, anh S và chị H gặp sự kiện bất khả kháng do nuôi tôm bị thua lỗ, kinh tế đang gặp khó khăn được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm 50% tiền án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 430, 440, 357 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H. H.

Buộc anh Phạm T. S và chị Nguyễn Thị C. H có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị H. H, ông Trịnh V. H số tiền mua thức ăn thủy sản còn nợ là 308.134.000 đồng và tiền lãi 20.000.000 đồng. Tổng cộng là 328.134.000 đồng (Ba trăm hai mươi tám triệu một trăm ba mươi bốn ngàn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu khoản tiền lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí:

Anh Phạm T. S và chị Nguyễn Thị C. H phải chịu 16.406.000 đồng án phí, được giảm 50% nên phải nộp 8.203.000 đồng (Tám triệu hai trăm lẻ ba ngàn đồng) án phí dân sự.

Bà Võ Thị H. H không phải chịu án phí, nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 9.551.100 đồng (Chín triệu năm trăm năm mươi mốt ngàn một trăm đồng) theo biên lai thu số 0001622 ngày 11/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà H, anh S, chị Hồ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với ông Hưởng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, tính từ ngày ông nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán số 94/2024/DS-ST

Số hiệu:94/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú Đông - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về